Tiết lộ lý do Bác Hồ nhiều lần chỉnh sửa bản di chúc

Bước vào năm 1965, sức khỏe Bác Hồ có dấu hiệu yếu đi nhiều. Bản thân Bác hiểu rất rõ bản thân, lại là người “nhìn xa trông rộng” nên Bác đã “lo liệu” những việc cần thiết nếu “chẳng may” Bác theo “các cụ Các Mác, Lênin”. Chính vì thế, 10/5/1965, Bác đã đặt những nét bút đầu tiên để viết bản tài liệu “Tuyệt đối bí mật” và hoàn thiện ngay sau đó vào ngày 14/5/1965. 

Tuy nhiên, trong các năm từ 1966 đến 1969, Bác đều dành riêng một khung giờ trong ngày để ngồi đọc và sửa lại bản tài liệu này. Có lần Bác đọc nhưng chỉ sửa một câu, một dấu chấm, phẩy. Có lần Bác viết thêm những nội dung quan trọng. Có lần Bác không thay đổi gì. 

Sau ngày Bác ra đi, ngày 3.9.1969, Bộ chính trị đã có một cuộc họp bất thường, trong đó quyết định nội dung quan trọng là công bố bản “Tài liệu tuyệt mật” – Đó chính là bản Di chúc,  di sản lớn lao Bác để lại cho toàn Đảng, toàn dân tộc.

Tại sao Bác dành rất nhiều thời gian để hoàn thiện bản Di Chúc? Lý do nào khiến Bác phải sửa di chúc nhiều lần như vậy?

Trước hết chúng ta cùng tìm hiểu về nội dung bản di chúc cũng như quá trình Bác Hồ viết di chúc như thế nào để hiểu thêm lý do Bác dành nhiều thời gian cho văn bản này như vậy.

Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh chuẩn bị di chúc từ rất sớm. Bác ý thức được cuộc sống con người có giới hạn, nhưng sự nghiệp con người thì phụ thuộc vào đường đi của những người kế nhiệm. Chính vì thế, ở  tuổi 75, Bác nghĩ “đã là cao rồi”, nhưng lúc này vẫn còn minh mẫn nên phải để lại vài điều cho hậu thế. 

Vào 9h sáng ngày 10/5/1965, Bác đặt bút cho những dòng chữ đầu tiên của tài liệu “Tuyệt đối bí mật”, sau này gọi là Di Chúc. Theo đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Bác kể lại thì vào 16h chiều ngày 14/5/1965, Bác hoàn thiện nội dung của bản Di Chúc. Sau đó, Bác có gọi đồng chí Lê Duẩn tới chứng kiến và ký nháy vào bản di chúc.

Tuy nhiên, đều đặn những năm sau đó, đúng dịp sinh nhật Người, từ 10/5 đến 20/5, mỗi ngày, Bác đều chọn khung giờ đặc biệt nhất là từ 9h tới 10h sáng để đọc lại nội dung bản di chúc và chỉnh sửa, bổ sung.  Đây là khung giờ Bác cho rằng mình “minh mẫn, sáng suốt và thanh thản” nhất và Bác chọn để dành cho công việc đặc biệt này. Thậm chí vào năm 1969, khi đang tham dự Hội nghị TW lần thứ 16, Bác đã xin phép đoàn đại biểu và TW ra về để thực hiện nhiệm vụ mà 4 năm qua Bác đã làm “đọc và sửa bản di chúc”. Đây cũng là lần sửa di chúc cuối cùng của Bác.

Sau khi Bác mất, ngày 9.9.1969, toàn văn bản Di Chúc Bác viết năm 1965 được Bộ Chính trị lựa chọn để công bố với toàn thể đồng bào. Mãi 20 năm sau, vào đúng dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người, 19.8.1989, Ban chấp hành TW Đảng khi ấy đã quyết định công bố toàn văn bản Di chúc của Bác (từ bản di chúc viết năm 1965 và những nội dung được bổ sung, chỉnh sửa trong 4 năm tiếp theo.)

Tài sản vô giá này hiện tại đang được Cục Lưu trữ Văn phòng TƯ Đảng bảo quản theo chế độ đặc biệt.  Trong đó, hiện trạng bản Di chúc của Bác được viết trên giấy, gồm 8 tờ. Trong đó bản viết ngày 10.5.1965 có 3 tờ kích thước 21 x 27cm; bản viết tháng 5.1968 có 3 tờ kích thước 18,5 x 26cm và 1 tờ kích thước 18.5 x 24cm; bản viết ngày 10.5.1969 có 1 tờ kích thước 20 x 30,5cm.

Bản đầu tiên Bác viết năm 1965, có 3 tờ đề ngày 15.5.1965 được đánh máy chữ mực xanh (đánh máy một mặt) trên giấy thường, có chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh phía cuối trang 3, bên cạnh chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh là chữ ký của người làm chứng là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn.

Bản viết tay bổ sung năm 1968 có 4 tờ tháng 5.1968 được viết bằng mực xanh, 2 tờ viết hai mặt, 2 tờ viết một mặt. Xen kẽ dòng viết mực xanh là những dòng viết bằng mực đỏ, có chỗ gạch xóa.

Bản viết tay bổ sung năm 1969 có 01 tờ, đề ngày 10/5/1969, viết tay bằng mực xanh ở mặt sau của tờ tin tham khảo đặc biệt của Việt Nam Thông tấn xã (trang 15a, ra ngày 3/5/1969). Xen kẽ là những dòng viết bằng mực đỏ, có chỗ gạch xóa.

Vậy quá trình Bác viết Di Chúc diễn ra như thế nào? Tại sao năm 1965 Bác đã hoàn thành bản di chúc rồi mà những năm sau Bác vẫn dành khoảng thời gian nhất định để sửa, bổ sung và hoàn thiện.

Theo đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Bác Hồ, Bác bắt đầu viết những dòng đầu tiên của bản Di chúc để lại cho muôn đời sau lúc 9 giờ sáng thứ hai, ngày 10-5-1965, đến 10 giờ, Bác viết xong phần mở đầu. Bác xếp tài liệu lại và chuyển sang làm các công việc thường ngày. Các ngày tiếp theo (ngày 11, 12 và 13-5-1965), cũng vào giờ đó (từ 9 giờ đến 10 giờ), Bác viết tiếp các phần còn lại. Riêng ngày 14-5-1965, do buổi sáng có lịch đi thăm một hợp tác xã ở ngoại thành Hà Nội và dự một phiên họp của Bộ Chính trị, Bác chuyển viết Di chúc sang buổi chiều với thời gian gấp đôi, từ 14 giờ đến 16 giờ. Đúng 16 giờ, Bác đánh máy xong bản Di chúc và cho vào phong bì. Đến 21 giờ hôm đó, Bác giao chiếc phong bì cho đồng chí Vũ Kỳ và dặn: “Chú cất giữ cẩn thận, vào dịp này sang năm nhớ đưa lại cho Bác”.

Những năm sau đó, đến dịp sinh nhật Bác hằng năm, đồng chí Vũ Kỳ lại đặt bản Di chúc lên bàn làm việc của Bác; sau đó Bác bổ sung và giao lại cho đồng chí Vũ Kỳ. Bác đọc kỹ bản Di chúc, xem xét, cân nhắc kỹ từng đoạn, từng câu, từng ý, từng lời và bổ sung thêm vào bản Di chúc tùy theo tình hình đất nước. Đặc biệt, qua tình hình chiến sự miền Nam, Bác lại viết thêm những phần cần thiết vào bản Di chúc. Năm 1966, Bác bổ sung thêm phần nói về tự phê bình và phê bình trong Đảng, trong đó Bác nhấn mạnh: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Năm 1967, Bác xem lại bản Di chúc, nhưng không sửa gì.

Vào năm 1968, trong bản Di chúc viết lần thứ hai này, Người đã căn dặn thêm nhiều điểm cụ thể về công tác Đảng, về việc chăm lo đời sống nhân dân, hạnh phúc con người, về những điều mà Người vẫn còn trăn trở.

Ngày 10/5, đúng 9h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lại phần mở đầu của bản Di chúc, đặc biệt là phần “Về việc riêng” được Bác thêm những nội dung quan trọng. Những nội dung này Bộ Chính Trị đã xin phép “không làm theo lời Bác dặn” và nội dung này cũng phải đến 20 năm sau ngày mất của Bác mới được công bố. Đó là “Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là “hỏa táng”. Tôi mong rằng cách “hỏa táng” sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn.

Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam. Đồng bào mỗi miền nên chọn l quả đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mả, không nên có bia đá tượng đồng, mà nên xây 1 ngôi nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ, để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi.

Nên có kế hoạch trồng cây trên và chung quanh đồi. Ai đến thăm thì trồng một vài cây làm kỷ niệm. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp. Việc săn sóc nên giao phó cho các cụ phụ lão”. 

Ngày 11/5, đúng 9h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục viết Di chúc phần nói về công tác chỉnh đốn Đảng: “Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình…”.

Ngày 12/5, đúng 9h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục viết Di chúc, đọc và sửa chữa những phần đã viết. Người căn dặn thêm nhiều điểm cụ thể về việc chăm lo đời sống của nhân dân sau chiến tranh:

“Đầu tiên là công việc đối với con người: Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, chiến sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”…”. 

Ngày 13/5, đúng 9h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục viết và sửa chữa bản Di chúc. Người sửa đoạn viết về chăm lo hạnh phúc đối với con người: “Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp của góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”. 

Từ ngày 14/5 đến ngày 18/5, đúng 9h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục sửa bản Di chúc.

Sang năm 1969, vẫn thói quen không thay đổi, đúng 9h sáng từ ngày 10/5 đến ngày 19/5, Bác dành thời gian cho Bản tài liệu tuyệt mật. Trong bản viết năm 1969 Bác viết lại có 1 tờ và đó là hoàn toàn phần mở đầu. Đoạn mở đầu này cũng được Bộ Chính Trị lấy nguyên văn công bố Bản di chúc vào năm 1969.

Câu hỏi đặt ra, tại sao một người uyên thâm, bác học, tri thức sáng ngời như Bác lại phải dành nhiều thời gian, sửa rất nhiều lần, nắn nót từng câu, từng chữ, từng dấu chấm, dấu phẩy trong bản Di Chúc như vậy? Có lý do nào đặc biệt ở đây?

Trước hết, chúng ta hiểu, Bác viết Di Chúc trong khi cuộc kháng chiến lớn của dân tộc còn đang diễn ra, kết quả cuối cùng vẫn chưa biết như thế nào. Dẫu với tầm nhìn xa, trông rộng và niềm tin chiến thắng về cuộc kháng chiến, nhưng Bác là con người của chủ nghĩa khoa học, vì vậy, Bác cần căn cứ vào thực tiễn của cuộc cách mạng để có những chỉnh sửa phù hợp. Chính vì vậy, năm 1968 khi Mỹ tiếp tục leo thang mở rộng cuộc chiến, nhận thấy tình hình cuộc kháng chiến chưa thể kết thúc sớm, Bác có sửa câu “Cuộc kháng chiến chống Mỹ còn vài năm nữa” thành câu “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn dài…”, thể hiện tầm nhìn, sự thay đổi kịp thời và phù hợp với thực tiễn của Người.

Thứ hai, theo như Bác, di chúc chỉ là “mấy lời để lại”, nhưng thực tế nó có ý nghĩa lớn lao, là tài sản vô giá cho dân tộc. Nó thể hiện tầm nhìn của Người, khi “không còn được phục vụ nhân dân, phục vụ Đảng” thì phải có lớp đội ngũ kế cận để tiếp tục cuộc cách mạng. Bởi vậy, nó chính là văn kiện vô cùng quan trọng, là kim chỉ nam cho Đảng, cho người cách mạng làm theo. 

Về lý do này, Đồng chí Vũ Kỳ, đã chia sẻ “Nếu nói về hình thức văn bản thì bản di chúc Bác viết năm 1965 đã hoàn thành. Nhưng cũng giống như ba văn bản cực kỳ quan trọng viết trong những thời điểm có tính bước ngoặt của lịch sử đất nước: Tuyên ngôn độc lập, năm 1945, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1946, Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước năm 1966, cứ còn thời gian là Bác còn sửa chữa, thêm bớt.”

Hóa ra lý do là như vậy. Bác ý thức được rất rõ “mấy lời dặn dò” này chính là ngọn đuốc soi sáng, củng cố niềm tin cho toàn Đảng, toàn dân, cho những người đồng chí cách mạng sau khi Bác đi “đỡ đột ngột”. Bởi vậy, không thể không cẩn trọng, không thể không chăm chút từng dấu chấm, dấu phẩy.

Bác nói về con đường xã hội chủ nghĩa, về Đảng, về nhân dân, về lực lượng thanh niên… Quả đúng như vậy, những lời căn dặn của Bác về vai trò của Đảng, về đạo đức cách mạng cho đến bây giờ, thậm chí mãi mãi về sau vẫn là kim chỉ nam, là ngọn đuốc soi đường cho người làm cách mạng. Năm 1968, Bác viết thêm về mục chỉnh đốn Đảng, tầm quan trọng của đạo đức cách mạng. Đến bây giờ chúng ta càng ý thức được Di chúc có giá trị quan trọng thế nào. Do đó, phải củng cố tổ chức Đảng vì nó quyết định vận mệnh quốc gia, để từ đó tạo lòng tin cho toàn dân và đoàn kết toàn dân. Đảng mạnh đến mấy mà không lôi kéo, tập hợp được nhân dân thì không giải quyết được việc gì. Là người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta, Người đã dẫn dắt Đảng và dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, Bác đặc biệt quan tâm căn dặn: “Trước hết nói về Đảng”. Trong Di chúc, Bác nhấn mạnh “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta”. Người tâm huyết nhắc nhở các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ “cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.

Trong Di chúc, Bác đưa ra lời tiên đoán có tính chất khẳng định, như một tất yếu của lịch sử: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài. Đồng bào ta có thể hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn” và “dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi”.

Những phần Bác viết đều rõ ràng, rành mạch, đều cô đọng lại trong một nguyên lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Điều đó có giá trị không chỉ cho dân tộc Việt Nam, không chỉ mang ý nghĩa trong chiến tranh giành độc lập mà trong cả công cuộc xây dựng kinh tế, tinh thần độc lập, tự chủ rất quan trọng.

Thậm chí, có những chỗ Bác sửa tưởng chừng rất đỗi đơn giản nhưng lại có ý nghĩa sâu sắc Ví dụ như câu, “Tôi phải đi gặp các Cụ Các Mác, Lênin” Bác cũng nắn nót sửa thành “tôi sẽ đi gặp” để thấy, Bác nắm và hiểu rõ quy luật của con người, của cuộc sống. Cũng chính vì vậy, trong Di Chúc Bác không một lần nhắc tới từ “chết”, chỉ nhẹ nhàng là mấy lời dặn dò mà thôi. 

Một điều nữa, việc sửa Di chúc cho thấy tư duy của Bác luôn được cập nhật. Năm 1968 Bác đã sửa lại mục “Về việc riêng”  mong muốn “được hỏa táng, tro được chia làm ba phần…” . Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nguyện hỏa táng và mong rằng nó sẽ trở thành xu hướng trong tương lai thể hiện rõ quan điểm của Người đối với đời sống con người, với bảo vệ môi trường. Vào những năm 60 của thế kỷ XX, ở nước ta, chắc chắn việc chủ trương hỏa táng là một quan niệm mới mẻ, là một tư tưởng hiện đại, nó khác xa với tập tục mai táng truyền thống của đại đa số người Việt. Nhưng đến nay, tư tưởng tiến bộ ấy đã và đang được nhiều người áp dụng.

Như vậy để thấy, 60 năm trước, Bác đã nhắc đến việc hỏa táng với những mục tiêu rất “hiện đại”. Đến nay, đây là vấn đề lớn mà xã hội vẫn phải đối mặt. Tức là Bác có khả năng tiên đoán, dùng giải pháp cho mình để làm gương giải quyết vấn đề của đời sống hôm nay và cho cả tương lai. Điều đó biểu thị tầm nhìn của người đã khuất nhưng vẫn còn soi sáng cho đời sống, cho thời đại của chúng ta.

Suốt đời phục vụ nhân dân, đất nước, trong Di chúc Bác không đề cập đến “cá nhân” hay “bản thân”, mà nói “về việc riêng”, bởi suốt đời Bác phấn đấu cho hạnh phúc của toàn dân. Cái riêng của Bác hòa trong cái chung của dân tộc. Suốt đời Bác vì dân, vì nước, vì Đảng, nên không lúc nào Bác nghĩ đến bản thân mình. Trước lúc đi xa, Người “không có điều gì phải hối hận” “chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.

THU TRANG (TH)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *