Tiết lộ danh tính võ sư Việt gửi lời thách đấu lính đánh thuê Đại Hàn gây chấn động và cái kết mãn nhãn

Từ năm 1965 lính Đại Hàn lần lượt cập bến quân cảng Đà Nẵng và chính thức tham chiến vào chiến trường Việt Nam theo thỏa thuận với đồng minh đế quốc Mỹ.  Đó là Sư đoàn bộ binh Capital có cái tên rất kêu “Mãnh hổ” đóng quân ở Quy Nhơn, tiếp theo là sư đoàn bộ binh ” Bạch Mã” đóng ở Phú Yên, Lữ đoàn thuỷ quân lục chiến “Rồng Xanh” đóng quân tại Quảng Ngãi, Hội An… Những đội quân này đã liên tiếp gây ra những tội ác cho nhân dân Việt Nam.

Năm 1971, trước những tội ác của lính Đại Hàn, một võ sư người Việt đã mạnh mẽ đứng lên ra lời thách đấu “tuyên chiến” thẳng thừng được công bố công khai trên hơn 42 tờ báo quốc gia. 

Ai là người đã để lại lời thách đấu với  “Mãnh Hổ”. Tuyệt kỹ công phu của ông như thế nào mà khiến quân Mãnh Hổ Đại Hàn không những không dám thách đấu mà còn phải gửi lời xin công khai?

Để hiểu rõ hơn về sự kiện gây chấn động không chỉ giới võ thuật khi đó mà còn dấy lên phong trào cách mạng phản đối lính đánh thuê Đại Hàn ở Sài Gòn khi đó, chúng ta cùng tìm hiểu bối cảnh lịch sử lúc bây giờ cũng như tội ác của quân lính Đại Hàn đã gây ra.

Ngày 19/8/1965, Cộng hòa Triều Tiên thông qua đạo luật cho phép Sư đoàn “Thủ đô” sang miền Nam Việt Nam tham chiến với tên gọi Sư đoàn “Mãnh hổ”. Tháng 9/1965, nước này gửi tiếp Lữ đoàn “Rồng xanh” và 1 năm sau, Sư đoàn “Bạch mã” cũng đến Nam Việt Nam. 

Sư đoàn “Mãnh hổ” thành lập ngày 20/6/1949 và được coi là một trong những sư đoàn thiện chiến nhất trong chiến tranh Triều Tiên. Khi tới Việt Nam, Sư đoàn này có 18.111 quân (nhiều hơn các sư đoàn khác gần 5.000 quân) với 2 trung đoàn bộ binh số 1 và 26; 1 trung đoàn kỵ binh thiết giáp; 3 tiểu đoàn pháo 105mm; 1 tiểu đoàn pháo 155mm; 1 tiểu đoàn công binh; 7 đại đội yểm trợ gồm: Đại đội quân y, trinh sát, thông tin, quân cảnh, hậu cần, thiết giáp, dự bị, ngoài ra còn có một phi đội không quân. Sở chỉ huy đóng tại thung lũng Vân Canh, tỉnh Bình Định. 

Theo thỏa thuận giữa Bộ Quốc phòng Đại Hàn khi đó và Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam (MACV), Sư đoàn “Mãnh hổ” có nhiệm vụ trấn giữ toàn bộ khu vực phía bắc Vùng II chiến thuật, là vùng mà phía Mỹ coi là địa bàn chiến lược quan trọng. Tháng 10/1965, Lữ đoàn “Rồng xanh” có mặt tại Cam Ranh với mục tiêu tiêu diệt quân ta tại đây. 

Dưới sức ép của Mỹ, tháng 9/1966, Cộng hòa Triều Tiên đưa thêm Sư đoàn “Bạch mã” sang Việt Nam. Sư đoàn này có nhiệm vụ kiểm soát toàn bộ dân cư dọc các tuyến quốc lộ 1, từ Phan Rang đến Quy Nhơn và cả khu vực miền núi phía nam tỉnh Bình Định. Sư đoàn này có 3 trung đoàn bộ binh; 4 tiểu đoàn pháo, 1 tiểu đoàn công binh, 7 đại đội độc lập (thiết giáp, trinh sát, thông tin, quân cảnh, quân y, hậu cần, đại đội dự bị và 1 phi đội không quân). Toàn bộ lực lượng của sư đoàn đóng rải rác trên 50 đồn bốt thuộc 2 tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa.

Tính đến cuối năm 1966, tổng số quân Nam Triều Tiên có mặt tại Việt Nam đã lên tới hơn 45.000 quân, vượt xa quân số của các nước đồng minh khác có mặt trên chiến trường miền Nam Việt Nam. Hơn nữa, việc Mỹ quyết định tập trung toàn bộ lực lượng chiến đấu của quân Nam Triều Tiên vào chiến trường Khu 5 không chỉ đơn thuần xuất phát từ lý do quân Nam Triều Tiên có kinh nghiệm trong chiến tranh du kích, hay nhằm giành lại thế chủ động, tiến tới làm chủ địa bàn chiến lược Khu 5. Phía sau quyết định này là cả một ý đồ vừa có tính chiến thuật, vừa có tính chiến lược. 

Chúng đã gây ra hàng loạt các vụ thảm sát lính Đại Hàn gây ra với thường dân Việt Nam khiến nhân dân vô cùng bất bình như: Vụ thảm sát Phong Nhị và Phong Nhất được xác nhận là do lực lượng Hàn Quốc tiến hành, trong khi họ cũng bị cáo buộc đã gây ra vụ thảm sát tại Bình An, Bình Hòa và Hà Mỹ. Tiếp sau đó là những vụ xảy ra tại An Linh, Vinh Xuân của Phú Yên. Đó là những vụ thảm sát man rợ, giết người bừa bãi, những tội ác “trời không dung, đất không tha”đặc biệt như vụ giết hại cùng một lúc 500 dân làng ở Tịnh Sơn, Quảng Ngãi với thành phần chủ yếu là người già trẻ em và phụ nữ để khủng bố răn đe mọi người không được ủng hộ du kích và trả thù cho những tên bị quân ta tiêu diệt…

Một điểm đặc biệt những lính Đại Hàn này khi gia nhập vào Mãnh Hổ hay Rồng Xanh ngoài việc rất thành thạo chiến thuật, kỹ thuật điêu luyện thì còn phải có trình độ võ thuật cao siêu. Tiêu chuẩn của các tên lính tham gia vào các đơn vị kể trên là phải có trình độ cao đẳng môn Taekwondo hoặc Hapkido truyền thống của Đại Hàn.

Năm 1966, 1967, quân ta ở miền Trung cùng đồng bào nêu cao khẩu hiệu ”Xé xác Rồng Xanh, Phanh thây Mãnh Hổ! Máu phải trả bằng máu, quyết trả thù cho đồng bào Bình Sơn, Sơn Tịnh bị Nam Triều Tiên sát hại” tấn công tiểu đoàn lính thủy đánh bộ của lữ đoàn Rồng Xanh, khiến quân Đại hàn khiếp sợ. Sau trận đánh lớn giáng đòn mạnh vào quân Đại Hàn, rung động đến cả Seoul và làm Park Chung Hee phải điên đầu. 

Tuy nhiên được sự bảo trợ của Mỹ, năm 1970, 1971, sư đoàn Mãnh Hổ tiếp tục sang nước ta, đóng dọc căn cứ từ Phú Yên đến Bình Định. Khi đó có một ký giả tên Trần Hữu Hoàng ngao du tới đây, chứng kiến được toàn bộ sự ngông cuồng, dã man của quân lính với người dân, ông đã hết sức bất bình. Chúng ngang nhiên xả súng giết người nếu chúng thấy không vừa mắt, thậm chí chúng có thể cưỡng hiếp phụ nữ ngay chốn đông người. Ngay chính ký giả cũng bị quân của sư đoàn Mãnh Hổ khiêu chiến khi ông lái xe trên đường thì bị quân Mãnh Hổ chèn ép sang lề đường khiến ông suýt nữa mất tay lái.

Thấy cảnh bất bình cùng những tội ác tày trời của quân lính sư đoàn Mãnh Hổ, sự khổ cực của dân chúng nơi đây, ngay sau đó ký giả Trần Hữu Hoàng quay lại Sài Gòn ông đã làm một việc gây chấn động không chỉ giới võ đạo, báo chí và giới trí thức, học sinh sinh viên Sài Gòn cùng toàn bộ chính quyền Ngụy, đặc biệt nội bộ của sư đoàn Mãnh Hổ khi đó. Việc làm đó là gì?

Không chỉ đăng hàng loạt tin, bài, ảnh về tội ác tày trời của đám lính Đại Hàn trên nhật báo Dân Lập, quyền sư Trần Hữu Hoàng với tư cách Phó Chủ nhiệm báo Dân Lập và chưởng môn phái Hắc Hổ – Thiết Quyền đạo, đã quyết liệt kêu gọi bộ chỉ huy quân đội Đại Hàn phải xin lỗi nhân dân Việt Nam.

Ông tuyên bố: “Môn sinh Hắc Hổ sẵn sàng thách đấu với bất cứ võ sĩ nào thuộc quân đội Đại Hàn, nhất là binh sĩ thuộc sư đoàn Mãnh Hổ đang tham chiến tại Việt Nam!”. Đồng loạt trên nhiều tờ báo như Thời đại mới, Trắng đen, Công luận, Độc lập, Đồng Nai, Hòa bình, Dân ta… đều đăng tải lời thách thức của võ đường Hắc Hổ như một sự kiện chấn động. 

Sau khi tờ báo đăng lời thách đấu chưa được bao lâu, hưởng ứng “tối hậu thư” của ký giả Trần Hữu Hoàng, đồng thời là võ sư của võ đường Hắc Hổ, Sài gòn đã bùng lên một phong trào đấu tranh chống lại tội ác của quân lính Đại Hàn.  Sinh viên Đại học Vạn Hạnh (nơi ông từng theo học) đã phối hợp với võ đường Hắc Hổ bao vây Bộ tư lệnh Đại Hàn (đường Trần Hưng Đạo) tại Quận 5, tấn công binh sĩ và đốt xe quân đội Đại Hàn. Sau đó làn sóng “đả đảo” mạnh mẽ trong tầng lớp sinh viên, học sinh khắp đường phố Sài Gòn – Chợ Lớn. 

Về sự kiện này, hàng chục tờ báo như Điện Tín, Thời Đại Mới, Trắng Đen, Công Luận, Tiếng Dội, Tia Sáng… đăng tải quan điểm của ký giả Nhật Thế Phong kèm lời thách thức của võ đường Hắc Hổ: “Văn phòng võ đường Hắc Hổ những ngày qua đã phổ biến một văn thư nhờ báo chí lên tiếng về sự thao túng, bạo ngược quá đáng của quân lính Đại Hàn tại Việt Nam như bắt dân trái phép, đụng xe bỏ chạy, chọc ghẹo với đàn bà con gái. Giám đốc chưởng môn võ đường Hắc Hổ cùng với trên 3.000 môn sinh thuộc hệ thống võ đường cực lực phản đối hành vi thiếu tinh thần thượng võ của binh lính Đại Hàn gây ra. Nếu binh lính Đại Hàn còn tiếp tục ngoan cố có những hành vi vũ phu, khiếm nhã với phụ nữ Việt Nam, lực lượng võ sinh Hắc Hổ sẵn sàng ra tay trừng trị!”. 

Lo sợ trước tinh thần dân tộc đang lên “như nước vỡ bờ” của quân dân ta sau lời “thách thức” của võ sư Hoàng, Trung úy Kim – người đứng đầu sư đoàn Mãnh Hổ lúc bây giờ đã phải lên tiếng xin lỗi nhân dân Việt Nam, đồng thời chấp nhận dán biểu tượng phản chiến trên xe quân sự Đại Hàn.

Trên nhật báo Tiếng Vang số ra ngày 24/9/1971, ký giả Phạm Nguyễn đưa tin: “Cuối cùng, đại diện quân đội Nam Hàn đã gặp đại diện sinh viên Đại học Vạn Hạnh và chưởng môn võ đường Hắc Hổ Trần Hữu Hoàng nhận trách nhiệm, xin lỗi nhân dân Việt Nam, đồng thời yêu cầu ngừng tấn công binh lính và đốt xe quân sự của họ. Đổi lại, họ đồng ý dán biểu tượng phản chiến trên xe các đơn vị thuộc quân đội Đại Hàn”.

Ký giả Trần Hữu Hoàng, Thưởng môn phái Hắc Hổ là ai, có uy tín như thế nào trong giới võ lâm, công phu của ông ra sao mà khiến quân lính Đại Hàn nổi tiếng tàn ác, võ nghệ cao tay cũng phải khiếp sợ như vậy? Chúng ta ngược dòng lịch sử tìm hiểu về môn phái Thiết Quyền Đạo và võ sư Trần Hữu Hoàng.

Trần Hữu Hoàng chính là truyền nhân đời thứ 3 của quyền sư Trần Văn Đầy nổi tiếng với biệt danh “Hắc Hổ”.Võ sư Đầy là cao thủ dòng võ Bình Định – An Thái. Người Bình Định có câu “Roi Thuận Truyền – quyền An Thái”. Quyền pháp An Thái uy vũ, đẹp mắt, tuy hoa mỹ nhưng thực dụng, tính sát thương cao qua chiêu thức biến ảo, chuyên tấn công vào yếu huyệt, nhất là miếng bắt giò của võ sĩ An Thái luôn khiến đối phương phải quy phục. Khi thực dân Pháp xâm chiếm vùng Gia Định, ông đã dạy võ công cho nhân dân địa phương để có thể tự vệ và đánh giặc.

Nhớ lại lúc bấy giờ, ở miệt Châu Đốc, An Giang có quyền sư Huỳnh Thuận Tường (người Tàu Minh Hương), vốn là cao thủ Thiếu Lâm Bắc phái – Sơn Đông, với sở trường tuyệt chiêu Thiết Trảo công, biệt danh “Thanh Long”. Nghe danh và ngưỡng mộ dòng võ An Thái với tên tuổi vị cao nhân Hắc Hổ đã lâu, vì thế cao thủ Thanh Long đã lặn lội hàng trăm cây số tìm đến 18 thôn vườn trầu ngỏ lời xin được so tài với võ sư Đầy. Trận thư hùng “long tranh hổ đấu” không phân thắng bại, xứng đáng danh xưng kỳ phùng địch thủ, từ đó giữa hai người nảy sinh một tình bạn “anh hùng trọng anh hùng”. Cơ duyên cho tới cuối năm 1953,  võ sư Thuận Tường đã kết hợp thành công thủ pháp Hắc Hổ quyền với cước pháp Thiết Trảo công lập ra môn phái Hắc Hổ – Thiết Quyền đạo. Đây là môn công phu được giao thoa giữa thủ pháp An Thái với cước pháp, bộ pháp võ thuật tỉnh Sơn Đông. Chiêu thức đòn thế ảo diệu khôn lường, phòng thủ uyển chuyển linh động như hổ rình mồi trong đêm, khi chuyển sang tấn công thì cước pháp uy lực dũng mãnh, cuồn cuộn tựa giao long đạp mây quẫy đuôi trên biển.

Trần Văn Chánh – con trai võ sư Trần Văn Đầy, từ nhỏ đã thụ đắc công phu Hắc Hổ – Thiết Quyền đạo. Sau đó, ông chân truyền các tuyệt kỹ võ lâm cho cùng lúc 5 người con trai của mình. Trong đó, trưởng nam Trần Hữu Hoàng mới 15 tuổi đã là phụ tá đắc lực của cha trong việc dạy võ.

Sinh ra trên mảnh đất quê hương cách mạng tại thôn Vườn Trầu (Bà Điểm, Hóc Môn), võ sư Trần Hữu Hoàng sớm có tinh thần cách mạng nảy nở. Lúc tròn 6 tuổi, ông và 4 anh em của mình được cha và ông nội là võ sư Trần Văn Đầy truyền thụ công phu Hắc Hổ – Thiết quyền đạo. Quả là “con nhà nòi”, sẵn tư chất thông minh, ông sớm lĩnh hội được các tinh hoa võ thuật mà ông nội truyền dạy. Trong những trận tỉ thí giữa các sư huynh đệ, với chiêu thức biến ảo khôn lường, ông đã hạ gục chính sư huynh của mình. Vì vậy, chỉ mới 15 tuổi, ông đã làm trợ giảng cùng cha đứng lớp dạy võ cho môn đồ. 

Năm 1960, tình hình biến loạn, thế sự đảo điên, cha ông Trần Hữu Hoàng quyết định vào chiến khu theo Cách mạng hoạt động chống Mỹ. Nhận thấy người con trai út có bản lĩnh hơn người, võ sư Trần Văn Chánh khi lên đường bí mật theo cách mạng đã giao lại võ đường cho ông cai quản.  Ông đã trao lại chức chưởng môn Hắc Hổ – Thiết Quyền đạo cho người con trai trưởng, lúc này Trần Hữu Hoàng vừa tròn 20 tuổi.

Giữa thập niên 1960, Trần Hữu Hoàng lên Sài Gòn mở võ đường tại Gò Vấp, thu hút hàng ngàn thanh thiếu niên đến tập luyện. Năm 1968, ông được Tổng cuộc Quyền thuật (chế độ cũ) chính thức cấp bằng võ sư.

Trần Hữu Hoàng đã biến võ đường Hắc Hổ thành một trong những “lò” nổi tiếng đào tạo võ sĩ đánh đài cùng với các võ đường Long Hổ Hội, Mai Thái Hòa, Kim Kê… Từ đó, ông được biết đến là Hoàng “Hắc Hổ”. Với lòng yêu nước, khẳng khái cùng kỹ nghệ võ sư điêu luyện, khi thấy tội ác tày trời của quân lính đội quân Mãnh Hổ mà ai ai cũng khiếp sợ ông đã mạnh mẽ đứng lên ra tối hậu thư “thách đấu” cùng lời hiệu triệu những sinh viên yêu nước đứng lên đấu tranh buộc lính sư đoàn Mãnh Hổ phải đứng ra “xin lỗi” và  phải dán tờ “phản đối chiến tranh” trên xe quân sự.

Ngoài đam mê võ thuật, ông còn là một sinh viên xuất sắc của khoa báo chí ở Sài Gòn. Sau khi tốt nghiệp, ông xách máy ảnh đi ngao du viết bài khắp nơi. Với tinh thần cách mạng đã ngấm sâu vào huyết quản, ngòi bút của ông luôn lên tiếng bảo vệ quyền lợi của người dân chịu lầm than. Bên cạnh chưởng môn nhân Hắc Hổ Thiết quyền đạo, ông giữ chức phó chủ nhiệm nhật báo Dân Lập, một tờ báo cách mạng đối lập với chính quyền Sài Gòn, đã làm bọn Ngụy quyền bao phen khiếp vía.

Võ nghệ của Võ sư Trần Hữu Hoàng cùng môn phái Hắc Hổ không phải chỉ đến khi thách đấu sư đoàn Mãnh Hổ mới nổi tiếng. Mà giai thoại về sức mạnh, kỹ nghệ điêu luyện của môn phái này đã được lưu truyền. Từ nhỏ, ông đã thụ đắc công  phu Hắc Hổ, ông đã đưa võ đường Hắc Hổ trở thành một trong những trung tâm đào tạo võ sĩ đánh đài chuyên nghiệp, thu hút hàng ngàn thanh thiếu niên đến võ đường ở Gò Vấp xin thọ giáo.  Những môn sinh của vị chưởng môn “Hắc Hổ” thời kỳ đó khiến cho võ sĩ giang hồ phải khiếp sợ bởi đòn đánh chớp nhoáng, gây sát thương cao độ. 

Nói đến tuyệt chiêu của môn phái, một trong những tuyệt kỹ được nhắc đến là “Thiết sa chưởng”, tức là bàn tay cứng như sắt thép được tôi luyện kỹ càng theo năm tháng.  Khi tập, tuyệt đối không cho người ngoài nhìn thấy vì rất dễ bị lộ bí kíp này. Vì vậy, khi xưa luyện võ công này võ sư Trần Hữu Hoàng thường chỉ luyện tập vào ban đêm để tránh những con mắt tò mò. Ông đặt một bao sỏi trước mặt, người luyện tập đến khi nào đánh vỡ bao được thì thôi, đó là một sự khổ luyện không ngừng nghỉ. Theo đó, khi tấn công, cú đánh “sấm sét” này có khả năng gây sát thương cao độ, làm đối thủ không kịp trở tay.

Không chỉ là “Thiết sa chưởng” với bàn tay sắt nung, môn công phu này còn kết hợp với đôi bàn chân linh hoạt, biến hóa khôn lường. “Độc thủ” ở đây chính là sức mạnh của bàn chân đá vào ngay yếu huyệt yết hầu khiến đối thủ không thể chống đỡ. Đặc biệt, ngón chân cái đá thẳng vào mắt có thể khiến đối phương bị mù lòa suốt đời. Vì vậy, đây là công phu mà không phải ai cũng được ông truyền thụ. 

Hắc Hổ Thiết quyền đạo sử dụng đầy đủ 18 món binh khí trong chiến đấu. Món binh khí sở trường của vị lão sư này là thanh kiếm sắc bén, đạt đến tinh hoa của kiếm thuật . Một số bài quyền của môn phái như Hắc hổ xuất sơn, Mãnh hổ hồi đầu, Ngạ hổ khiên dương, Hổ vĩ cước… đặc biệt bộ Liên Hoàn Châu kết hợp 12 đường chỏ cực kỳ lợi hại trong lối đánh nhập nội nhắm vào các tử huyệt đối phương. Với những đòn tấn công thẳng, ngắn để kéo, bẻ, xé hoặc vồ mang thần thái, uy lực của mãnh hổ, võ sư Trần Hữu Hoàng được tôn xưng là “Hắc Hổ” trong giới võ lâm ngày ấy.

THU TRANG (TH)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *