Tiết Lộ Danh Tính Người biến sắt vụn thành vũ khí khiến quân mỹ khiếp vía

Là một tên tuổi lớn đã đặt nền móng xây dựng ngành khoa học kỹ thuật quân sự và công nghiệp quốc phòng Việt Nam, gắn liền với những sản phẩm nổi tiếng trong lịch sử kháng chiến. Ông đã sáng chế ra những vũ khí phải nói là cực kỳ lợi hại, góp phần tiêu diệt nhiều sinh lực địch, khiến giới quốc tế cũng phải ngả mũ thán phục vì tài năng của ông.

Với những đóng góp to lớn của ông cho ngành quân giới, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tặng ông danh hiệu “Ông Phật làm súng” và nhân dân tôn ông là “ông vua” vũ khí.

Tuy nhiên không phải ai cũng biết câu chuyện cách đây hơn 70 năm về trước, ông đã từ bỏ công việc kỹ sư trưởng ở nước ngoài với mức lương “trên trời” để trở về Việt Nam. Nhân vật huyền thoại ấy đã có cơ duyên gặp được Hồ Chí Minh, được Bác ưu ái đặt bí danh riêng và giao cho trọng trách vô cùng to lớn. Từ đó, ông cùng nhân dân, cùng Đảng và Nhà nước ta tạo nên một “kỳ tích” chưa từng có tiền lệ trong lịch sử. Đây là một cột mốc vĩ đại trong cuộc đời ông và cũng là bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến, đấu tranh và bảo vệ đất nước.

Con người huyền thoại ấy là ai? Cuộc gặp gỡ “định mệnh” giữa ông và Bác Hồ diễn ra trong hoàn cảnh nào? Và những kỳ tích đáng khâm phục của ông là gì mà khiến cho quân địch phải “run rẩy” mỗi khi nhắc đến? 

Huyền thoại mà Việt sử toàn thư đang nhắc đến không ai khác chính là Giáo sư Trần Đại Nghĩa. Ít ai biết rằng, trước khi trở thành “ông vua” vũ khí khiến quân địch khiếp sợ, ông cũng phải trải qua rất nhiều thăng trầm thời trẻ.

Tên thật của ông là Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13/9/1913 tại làng Chánh Hiệp, quận Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Năm lên 6 tuổi, Phạm Quang Lễ chứng kiến sự ra đi của người cha thân yêu. Lời trăn trối của cha “con phải chăm lo học hành, sau này mang kiến thức của mình ra để giúp ích cho đời” đã theo ông suốt cả cuộc đời. 

Ông lớn lên trong vòng tay yêu thương của mẹ và chị gái. Với tư chất thông minh vượt trội, sau khi kết thúc Đệ nhất cấp trường tỉnh Mỹ Tho, ông lên Sài Gòn theo học trường Trung học Pétrus Ký nổi tiếng. 

Năm 1935, ông du học Pháp và sau những năm tháng học tập cần cù, với trí thông minh và nghị lực phi thường, Phạm Quang Lễ đã nhận được cùng lúc ba bằng đại học: Kỹ sư cầu đường, kỹ sư điện và cử nhân toán học. Sau đó ông học lấy tiếp bằng Kỹ sư hàng không, bằng của Trường mỏ và Đại học bách khoa. Trong 11 năm du học ở nước ngoài, ông đã âm thầm nghiên cứu kỹ thuật, công nghệ và hệ thống tổ chức chế tạo vũ khí.

Sau đó, cuộc gặp gỡ giữa ông và Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Paris khi ấy đã trở thành cuộc gặp gỡ định mệnh làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời của Phạm Quang Lễ.

Đó là vào năm 1946, Bác Hồ đi Pháp với tư cách là khách mời đặc biệt của Chính phủ Pháp. Trong thời gian ở Pháp, Bác Hồ đã thu hút được đông đảo trí thức Việt kiều về nước phục vụ kháng chiến.

Phạm Quang Lễ được đến gặp Hồ Chủ tịch. Bác hỏi: “Nguyện vọng của chú lúc này là gì?”, ông Lễ trả lời rất nhanh: “Kính thưa Cụ, nguyện vọng cao nhất của tôi là được trở về Tổ quốc cống hiến hết năng lực và tinh thần”.

Bà Nguyễn Thị Khánh, vợ kỹ sư tiết lộ: “Ông Phạm Quang Lễ đã từ bỏ chức vụ kỹ sư trưởng ở Hãng nghiên cứu chế tạo máy bay Concord với tiền lương tương đương 22 lạng vàng một tháng lúc ấy để theo Bác Hồ về nước”.

Ngày 20/10/1946, con tàu đưa Hồ Chủ tịch và đoàn tuỳ tùng cập bến Hải Phòng. Chỉ 7 ngày sau khi về nước (27/10/1946), Phạm Quang Lễ lập tức được Bác trực tiếp giao nhiệm vụ lên Thái Nguyên, nghiên cứu chế tạo súng chống tăng dựa theo mẫu bazooca của Mỹ, với hai viên đạn do GS Tạ Quang Bửu lúc này là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cung cấp. Ngày 5/12/1946, Phạm Quang Lễ tới Bắc bộ phủ theo lệnh của Bác. Vừa gặp, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng nhưng cũng đầy thân mật bảo: “Kháng chiến sắp đến nơi rồi, hôm nay tôi gọi chú lại để trao cho chú nhiệm vụ làm Cục trưởng quân giới. Chú lo vũ khí cho bộ đội diệt giặc”. Bác Hồ giao cho ông toàn quyền hành động trong việc chế tạo vũ khí mà không phải thông qua bất kỳ một cấp nào khác.

Rồi Người căn dặn: “Việc của chú là việc đại nghĩa, vì thế từ nay Bác đặt tên cho chú là Trần Đại Nghĩa.”

Sau này, những ngày cuối trước khi qua đời, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa vẫn nhắc lại tình cảm sâu sắc Bác dành cho ông, nhắc lại ngày 5/12 lịch sử, ông được giao nhiệm vụ Cục trưởng Cục quân giới và trao bí danh đầy ý nghĩa này. Đó là mốc lịch sử rất lớn đối với cuộc đời ông. Và từ đây, lần lượt những “vũ khí khủng” do Việt nam sản xuất gắn với tên tuổi của ông được cho ra đời khiến cho quân địch các nước “sừng sỏ” phải bàng hoàng đến run rẩy. Đó là những vũ khí có sức công phá khủng khiếp như thế nào? Hãy cùng tiếp tục theo dõi!

Với kiến thức tích lũy, tháng 11/1946, kỹ sư Trần Đại Nghĩa cùng các cộng sự bắt tay nghiên cứu chế tạo súng và đạn chống tăng Bazooka để bộ đội Việt Nam có vũ khí chống xe tăng và lô cốt Pháp. Đây cũng chính là thành tựu đầu tiên “ghi danh” ông trong lịch sử chói lọi.

Trong quá trình chế tạo súng chống tăng dựa theo mẫu Bazooka của Mỹ, ông Trần Đại Nghĩa say mê làm việc đến quên ăn, quên ngủ. Song công việc không hề dễ dàng. Ông chỉ đạo xưởng Giang Tiên sản xuất thành công một khẩu súng Bazooca 60 mm và 50 quả đạn. Khi bắn thử, đạn nổ nhưng chưa xuyên.

Đạn Bazooca của Mỹ được nhồi bằng thuốc phóng, còn ta chỉ có loại thuốc súng lấy được từ bom đạn của Pháp. Tất cả đều phải tính toán lại từ đầu và phải hiểu được những nguyên lý cơ bản về thuốc phóng, thuốc nổ. Chỉ một sai sót nhỏ sẽ phải trả giá bằng xương thịt của chiến sĩ nơi trận mạc, vì thế trách nhiệm càng đè nặng lên vai ông. Những cán bộ chiến khu sau này kể lại, họ rất… sợ khi đi qua phòng ông vì đó là nơi rất nguy hiểm.

Cuối cùng, điều kì diệu đã đến. Cuối tháng 2 năm 1947, cuộc thử nghiệm Bazooca thành công. Mức đâm xuyên của đạn vừa chế tạo đạt độ sâu 75cm trên tường thành xây gạch tương đương với sức nổ xuyên của đạn Bazooca do Mỹ chế tạo. Đây là bất ngờ lớn đối với địch.

Đêm đó, ông Phan Mỹ, Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ sản xuất cấp tốc đạn Bazooca để cản phá cuộc hành quân của Pháp. Chúng ta đã vây Pháp hơn 2 tháng ở Hà Nội và giờ chúng đang tìm cách thoát ra.

Cật lực suốt đêm, đến 3 giờ sáng thì tổ nghiên cứu của Trần Đại Nghĩa cùng anh em trong cơ quan Cục Quân giới nhồi lắp được 10 quả đạn mang mã hiệu B60, kèm 1 quả đạn khói, 1 súng Mỹ cải tiến đưa ra mặt trận.

Sáng 3/3/1947, máy bay Pháp bắt đầu yểm trợ cho xe tăng, cơ giới của địch đánh chiếm thị xã Hà Đông. Quân ta bố trí dọc đê. Bốn xe tăng dẫn đầu đội hình quân Pháp tấn công, bộ binh tràn theo sau. Bỗng từ một vị trí bí mật ven đê, tiếng súng của tiểu đội Bazooka nổ. Viên đạn đầu tiên được bắn, chiếc xe tăng dẫn đầu bốc cháy. Viên đạn thứ hai bắn cháy thêm một chiếc xe tăng nữa. Cả đoàn xe địch khựng lại, hỗn loạn rồi thóai lui. Sự xuất hiện của một loại vũ khí mới đã khiến chúng bất ngờ và hoang mang. Hai chiếc xe tăng còn lại bỏ chạy. Bộ binh cũng chạy theo.

Ngày 3/3/1947 đã trở thành một mốc son của ngành Quân giới Việt Nam trong việc chế tạo khí tài, súng đạn. Chiến công này góp phần bẻ gẫy cuộc tấn công của địch ra vùng Chương Mỹ, Quốc Oai.

Sau việc sản xuất súng đạn Bazooca thành công, cục Quân giới chuyển lên Việt Bắc và tiếp tục sản xuất hàng loại súng này. Trong chiến dịch Thu Đông năm 1947, bazoka còn bắn chìm cả tàu chiến Pháp trên sông Lô.

Bazooca xuất hiện lần đầu tiên trên thể giới vào Thế chiến 2, năm 1943, đã trở thành vũ khí đáng sợ đối với nhiều đơn vị quân đội. Tuy nhiên việc một đất nước vừa thoát khỏi cảnh thuộc địa và nửa phong kiến như nước ta đã chế tạo thành công loại vũ khí hiện đại này, thật như huyền thoại và là điều không thể ngờ đến của địch.

Sau đạn bazoka, những năm 1948 – 1949, Trần Đại Nghĩa và các đồng nghiệp trong Cục Quân giới bắt đầu nghiên cứu và chế tạo loại súng có sức công phá mạnh – súng không giật SKZ cỡ 60mm. Sau thất bại trong Chiến dịch Việt Bắc năm 1947, quân Pháp phòng thủ trong những boong-ke rất kiên cố. Nhiệm vụ phải có vũ khí hóa giải boong-ke ấy được giao trực tiếp cho Cục trưởng Trần Đại Nghĩa và ông triển khai cho toàn ngành quân giới. Bấy giờ, nhà khoa học trẻ Nguyễn Trinh Tiếp, đang là Trưởng phòng Xạ thuật Nha nghiên cứu Kỹ thuật Cục Quân giới, đã chế tạo súng phóng bom, hay còn gọi súng không giật (SKZ), với đạn lõm, có tầm bắn gần nhưng sức công phá mạnh. Đề án chế tạo SKZ 60 được trình lên và lập tức được ông Trần Đại Nghĩa đưa vào sản xuất thử nghiệm. Cục trưởng Trần Đại Nghĩa thường xuyên góp nhiều ý thực tế. Sau sáu tháng nghiên cứu, loại súng này được sản xuất hàng loạt.

Súng SKZ 60 là loại vũ khí công đồn nặng khoảng 26 kg, có thể tháo rời để mang vác, đầu đạn nặng khoảng 9 kg, có thể chọc thủng các tường bê tông dày 600- 1000mm của lo cốt địch. Đây là dòng vũ khí hiện đại, mới xuất hiện lần đầu trong trận quân Mỹ đổ bộ lên đảo Okinawa của Nhật Bản hồi cuối chiến tranh thế giới thứ hai.

SKZ 60 lần đầu lập chiến công phá tan boong ke kiên cố của Pháp trong chiến thắng phố Ràng, phố Lu của Trung đoàn Thủ Đô – Đại đoàn 308 trong Chiến dịch Lê Hồng Phong cuối năm 1949. Năm 1950, tại chiến trường Nam Trung Bộ, trong một đêm, với loại súng không giật này ta đã loại bỏ 5 đồn giặc. Địch hoảng sợ tháo chạy khỏi hàng loạt đồn bốt khác.

Tiếp theo SKZ-60 là cả một họ SKZ nối đuôi nhau ra đời, có cái đáp ứng được nhu cầu của chiến trường, có cái phải bỏ dở vì viện trợ vào nhiều. Nhưng có hiệu quả hơn cả, được ưa chuộng hơn cả, được trang bị rộng khắp ở các đại đoàn chủ lực và địch kinh hoàng nhất vẫn là SKZ-60, một vũ khí hoàn toàn của Việt Nam, do Việt Nam nghiên cứu và chế tạo.

Để có thể đánh đòn chí mạng vào các điểm co cụm của địch, Trần Đại nghĩa tiếp tục nghiên cứu chế tạo loại bom bay tương tự loại V1, V2 của Đức. Sau đó ông đã tạo ra loại bom bay được cho là có sức tấn công chẳng kém gì so với V1, V2. Ngoài ra, ông cũng tạo ra thành công loại tên lửa nặng 30 kg có thể đánh phá các mục tiêu ở cách xa 4 km. 

Trong cuốn sách “Chiến tranh Đông Dương” của Lucien Bodard, xuất bản 1963 tại Paris (Pháp), có viết: “Trước đây, người Việt chỉ có thể đột phá vào đồn bốt bằng cách lấy sức liều mạng. Nhưng bây giờ họ làm việc đó bằng bazoka hoặc SKZ (một loại đại bác không giật do Việt Minh chế tạo). Cái thứ gây khó khăn cho chúng tôi, cái thứ xuyên thủng bê tông dày 60cm là những quả đạn SKZ 8kg mà người Việt chế tạo ở Đông Dương. Chỉ cần vài quả là đủ tiêu diệt tháp canh của chúng tôi”.

Trong một bài viết ký bút danh C.B đăng trên báo Nhân Dân số 61 ra ngày 12 tháng 6 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh có viết: “Là một đại trí thức, mang một lòng nhiệt tình về phụng sự Tổ quốc, phục vụ kháng chiến, kỹ sư Nghĩa luôn luôn cố gắng làm đúng lời hứa: khắc phục mọi khó khăn, đào tạo nhiều cán bộ, đưa những học thức rộng rãi ở châu Âu áp dụng vào điều kiện eo hẹp của nước ta. Đồng chí rất giỏi về khoa học máy, nhưng lúc thực hành thì không “máy móc” […] Kỹ sư Nghĩa có công to trong việc xây dựng quân giới, luôn gần gũi, giúp đỡ, dạy bảo và học hỏi anh em công nhân, đã thắt chặt lý luận với thực hành”.

Sự ra đời của những vũ khí mang tên Trần Đại Nghĩa đã đưa trí tuệ Việt Nam vươn tới đỉnh cao của nền khoa học thế giới lúc bấy giờ.

Ông đã được trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu Anh hùng Lao động tại đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc đầu tiên năm 1952.

Năm 1956, ông nhận quyết định làm Giám đốc trường Đại học Chuyên nghiệp Bách khoa và năm 1996, ông được Nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 về Cụm công trình nghiên cứu và chỉ đạo kỹ thuật chế tạo vũ khí Bazôca, súng không giật, đại bác không giật, bom bay trong kháng chiến chống Pháp 1945-1954. Các công trình nghiên cứu của ông được quốc tế đánh giá cao.

Năm 1966, ông được bầu làm Viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô.

Những năm cuối đời, ông cùng gia đình trở về quê hương, sinh sống cùng gia đình tại quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đức tính nhân hậu, ông và vợ, con luôn có lòng thương yêu, giúp đỡ bà con, được mọi người quý mến, tôn trọng.

Ông mất vào 16 giờ 20 phút ngày 9 tháng 8 năm 1997, hưởng thọ 84 tuổi.

Theo các nhà khoa học, các nghiên cứu về tổng kết chiến tranh chống Pháp và Mỹ cũng đều khẳng định vai trò không thể thiếu của vũ khí, trang bị do Việt Nam tự thiết kế, chế tạo. Theo đó, GS.VS Trần Đại Nghĩa là một trong những “cánh chim đầu đàn” của khoa học – công nghệ Việt Nam và của đội ngũ trí thức trực tiếp làm nhiệm vụ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo vũ khí, trang bị phục vụ sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư Trần Đại Nghĩa được ví như những trang sách, có thể ở trang cuối còn đang viết dang dở, nhưng sẽ được thế hệ mai sau viết tiếp. Nét chữ mới nối tiếp nét chữ cũ – như một dòng chảy mãi không ngừng…

THU TRANG (TH)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *