Thượng tướng Nguyễn Hữu An và những trận đánh khiến quân thù khiếp sợ

Thượng tướng Nguyễn Hữu An sinh ngày 9-10-1926 tại xã Trường Yên, huyện Hoa Lư trong một gia đình có truyền thống yêu nước và cách mạng. Tuổi thơ của ông cũng nhiều nước mắt và đắng cay khi mẹ ông mất sớm, bố hoạt động cách mạng nên phần lớn thời gian ông ở với mẹ kế. Ông thường hy vọng sau này lớn lên sẽ trở thành một nhà khoa học của đất nước, nhưng khi đất nước có chiến tranh ông đã “Xếp bút nghiên theo việc binh đao”, bắt đầu cuộc đời binh nghiệp của mình.

Trong gần nửa thế kỷ có mặt tại chiến trường, ông tham gia trận đánh lớn, tạo nên chiến thắng lịch sử vang dội. Có những trận đánh “chấn động địa cầu”, có những trận khiến quân Mỹ “sa lầy cuộc chiến, khiến tổng thống Mỹ phải từ chức”, có những trận phá tan kế hoạch của thực dân mới… Nguyễn Hữu An được coi là vị tướng của trận mạc, chiến tướng không có đối thủ..

Vậy những trận đánh tiêu biểu nào thể hiện tài mưu lược của tướng An? Ông đã có những chiến thuật nào mà khiến đội quân mạnh nhất thế giới phải thua trận thảm hại?

Trước hết chúng ta cùng điểm qua những nét nổi bật trong cuộc đời và sự nghiệp của vị tướng tài ba nhưng hết sức giản dị – thượng tướng Nguyễn Hữu An. 

Tháng 8-1945, khi mới 19 tuổi, ông đã tham gia đội ngũ giải phóng quân chiến đấu giành chính quyền ở Yên Bái. Suốt kháng chiến chống Pháp, người chiến sĩ, cán bộ Nguyễn Hữu An đã trải qua nhiều trận đánh, các chiến dịch lớn, từ chiến dịch Biên giới, Hòa Bình, Thượng Lào… đến chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. 

Năm 1956, ông lập gia đình với một cô giáo Hà Nội, mội tình lãng mạn của một anh lính Bộ đội Cụ Hồ với cô gái sư phạm gốc Hà Nội. Sau đó là thời điểm ông “đằng đẵng” trong những chiến trường. Thời gian ở với vợ con đếm trên đầu ngón tay, để rồi chỉ có lời hẹn thống nhất “bắc – nam sum họp” sẽ gặp lại vợ con với hơn 1000 lá thư tay được ông viết trong những lúc hành quân, lúc tạm nghỉ giữa trận chiến căng thẳng. Với vợ con mình, ông đơn giản là một người chồng, một người cha giản dị, từng thức xuyên đêm xách nước cho vợ con khi có dịp về nhà, sẵn sàng nấu cơm, rửa bát… Còn những chiến công vang dội, ông chẳng bao giờ kể, chẳng bao giờ nhắc. Đến tận lúc ông mất, ông cũng chỉ một bộ comple được nhà nước phát cho lần đầu đi thăm Liên Xô.

Câu chuyện về cuộc đời bình dị của vị tướng ấy càng làm chúng ta cảm phục và tò mò, trong chiến trận ngày đó, ông là một vị tướng như thế nào mà khiến quân thù phải khiếp sợ đến vậy.

Khi còn chiến sĩ trẻ nhưng ông đã bộc lộ tài chỉ huy và lãnh đạo chiến dịch của mình. Ông đã từng qua các cương vị chỉ huy cấp đại đội, tiểu đoàn thuộc trung đoàn 115 Phúc Yên, Trung đoàn 74 Cao Bằng và Trung đoàn 174 Cao – Bắc – Lạng. Ông đã tham gia hầu hết các chiến dịch như chiến dịch Thu Đông 1947, chiến dịch biên giới 1950… Đặc biệt trong chiến dịch Thu Đông 1947, từng được chính Bác Hồ tới tổ chức động viên.

Đến chiến dịch Điện Biên Phủ ông là Trung đoàn trưởng Tiểu đoàn 174, Sư đoàn 316, từng lính đạo trung đoàn của mình tấn công đồi A1.Đây là trận đánh chiến lược, chứng kiến nhiều thương vong của cả quân ta và quân địch. Sau lần tấn công thứ nhất với nhiều tổn thất, được sự chỉ đạo trực tiếp của tướng Võ Nguyên Giáp, trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An đã thay đổi cách đánh. Sau đó đến đợt công kích thứ 3, quân ta đã giành được thế kiểm soát và chủ động hoàn toàn, tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng ngày 7-5-1954. Trong trận này chính Nguyễn Hữu An là người chủ mưu cho kích nổ khối bộc phá 1000kg làm tan nát đồi A1.

Chiến thắng này đã quyết định rất lớn tới hiệp định Giơnevơ, khiến quân Pháp phải rút khỏi 3 nước Đông Dương. Việt Nam và Điện Biên Phủ đã đi vào lịch sử thế giới. Nguyễn Hữu An cũng từ đây, lập thêm nhiều chiến công hiển hách, khiến quân thù khiếp sợ. 

Mùa hè năm 1958 Hữu An mang quân hàm Trung tá, rồi Thượng tá tham mưu phó Quân khu Tây Bắc. Kháng chiến chống Mỹ cứu nước ông vào mặt trận Tây Nguyên, đối đầu với những trận đánh căng thẳng và gay go nhất. Tại chiến trường Tây Nguyên, ông đã chỉ huy đơn vị chiến đấu và chiến thắng giòn giã, tiêu biểu như những chiến thắng Pleime, I-a-Đrăng, chiến thắng sông Sa Thầy, chiến thắng Đắc – Tô I…

Cụ thể, vào năm 1965, Nguyễn Hữu An nhận chức sư đoàn trưởng sư  đoàn 325, giữ chức phó tư lệnh mặt trận Tây nguyên. Cao nguyên được cho là mái nhà của Đông Dương, bởi vậy trận chiến hết sức ác liệt. Đây cũng là thời điểm Mỹ thực hiện chiến lược không quân với chiến dịch tìm diệt và càn quyết vô cùng ác liệt. Lúc này chính quân ta lúc này cũng chưa biết khi Mỹ thực hiện phương pháp này thì có “đánh được Mỹ không và đánh như thế nào”, giữa vũ khí và con người trong cuộc chiến. Chính chiến thắng lớn tại Pleime, I-a-Đrăng dưới sự chỉ huy của Nguyễn Hữu An đã trả lời những câu hỏi trên, giúp quân dân ta thêm niềm tin vào cuộc chiến này. 

Trung tướng Moore hiện nay đã nghỉ hưu, lúc đó là trung tá trực tiếp chỉ huy một tiểu đoàn thuộc sư đoàn kỵ binh bay, đổ bộ xuống thung lũng Ia-drang đánh nhau với Quân đội nhân dân Việt Nam là tiểu đoàn 9, trung đoàn 66 đã viết, “Trận đánh để lại cho tôi nhiều ấn tượng sâu sắc. Đối tượng của tôi là Quân đội nhân dân Việt Nam, quân chủ lực, đã chiến đấu hết sức dũng cảm và có một cách đánh giáp lá cà rất sáng tạo”.

Mỹ đã dùng không quân, pháo và vũ lực hiện đại với hy vọng tìm diệt đội quân lính Cụ Hồ một cách nhanh nhất. Nhưng tướng An sau khi nghiên cứu chiến trường đã đưa ra cách đánh “vây điểm, diệt viện”, dụ cho quân địch vào một khu vực ta đã chọn sau đó giáp lá cà để quân Mỹ không thể sử dụng vũ lực hiện đại. Với cách đánh “vây điểm, diệt viện”, cuối tháng 10-1965, trong khuôn khổ Chiến dịch Pleime, quân ta đã vây ép đồn Pleime, tiêu diệt đồn Chư Ho, buộc địch phải điều một chiến đoàn bộ binh cùng Chiến đoàn thiết giáp số 3 ngụy ứng cứu nhưng cũng bị lực lượng của ta đánh bại.  

Như con thú dữ bị thương, quân Mỹ quyết tâm “ăn tươi nuốt sống” quân đội ta, ngày 14-11-1965, Lữ đoàn 3 kỵ binh Mỹ dùng máy bay lên thẳng đổ quân xuống thung lũng Ia Drang, nhằm đánh đòn bất ngờ vào sau lưng đội hình các đơn vị chủ lực ta. Tuy nhiên địch không thể ngờ tướng Nguyễn Hữu An đã đoán ra ý đồ của họ; tình huống nằm trong ý định của ta nhằm đưa bộ đội chủ lực trực tiếp đương đầu với quân Mỹ để tìm hiểu khả năng tác chiến của chúng và xây dựng cách đánh Mỹ cho bộ đội. Bằng quyết tâm cao, thế trận vững chắc, hiểm hóc và cách đánh linh hoạt, chủ động, táo bạo dũng mãnh, quân ta tiêu diệt gần hết một tiểu đoàn và đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn khác của Lữ đoàn 3 kỵ binh không vận Mỹ, buộc chúng phải tháo chạy khỏi thung lũng Ia Drang.  

Khi bị chúng ta tấn công, phía Mỹ hoàn toàn bị động, Nguyễn Hữu An đã chỉ đạo chủ động đánh giáp lá cà, khiến người Mỹ không dám rải thảm bom xuống các khu vực diễn ra giao tranh là do phía Mỹ và ta có cự ly chiến đấu quá gần, nếu sử dụng B-52 rất có thể sẽ thả trúng vào cả quân Mỹ.

Với trận đọ sức này đem lại niềm tin to lớn rằng, quân đội ta đủ sức đối đầu, chiến đấu và chiến thắng kẻ thù dù thua kém về hỏa lực cũng như các phương tiện hỗ trợ. Đây cũng là trận đầu tiên của Quân đội ta tiêu diệt gần hết tiểu đoàn quân Mỹ trên chiến trường miền Nam, mở ra khả năng ta có thể thắng Mỹ trong điều kiện chúng có ưu thế về lực lượng, trang bị và cơ động. Trận đánh đã minh chứng cho nghệ thuật mưu lược của tướng Nguyễn Hữu An,  đã khiến cho “nước Mỹ bước vào một thập kỷ sa lầy, 58 nghìn quân mỹ phải vào quan tài và làm hỏng 1 đời Tổng thổng Mỹ”.

Sau chiến thắng lớn đầu tiên ghi đậm dấu ấn của tướng An, ông tiếp tục lập chiến công vang dội tại trận Sa Thầy. Đây là trận chiến đầu tiên quân Mỹ đổ bộ với quy mô lớn bằng không quân. Tướng Nguyễn Hữu An đã bày mưu “nhử cọp” ra khỏi hang và từ đó tiêu diệt hoàn toàn 1 tiểu đoàn và thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn khác chỉ sau 10h chiến đấu.  Ông từng chia sẻ về kế hoạch trong trận đánh này như sau “ Muốn giết hổ thì phải tạo ra cái bẫy, lôi chúng ra khỏi hang và tiêu diệt chúng”

Mùa khô năm 1966, Bộ Tư Lệnh Tây Nguyên quyết định xây dựng kế hoạch “nhử địch” ra khỏi hang để tiêu diệt. Lợi dụng đúng sở thích “nhảy cóc bằng trực thăng của quân Mỹ để dẫn chúng vào cái bẫy quân giải phóng giăng sẵn”, đích thân tướng Nguyễn Hữu An đã đi trinh sát thực địa, bày binh bố trận, các điểm chốt để dụ địch ra theo kế hoạch của ta.

Theo phương châm tác chiến “vây điểm, diệt viện”, ngày 18-10-1966, Bộ tư lệnh chiến dịch (sau khi lựa chọn địa hình rừng núi, sông suối hiểm trở giữa đông sông Sa Thầy và tây sông Pô Cô làm nơi quyết chiến điểm để kéo quân Mỹ ra tiêu diệt) đã cho Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn Bộ binh 95) bao vây, pháo kích đồn biệt kích biên phòng Plây Giăng (tây nam sông Pô Cô, gần biên giới Việt Nam-Campuchia) và cho bộ đội công binh, bộ đội thông tin bắc cầu treo, rải dây hữu tuyến giả chạy dọc phía tây sông Pô Cô để gây sự chú ý của địch. Mục tiêu của những hoạt động này theo kế hoạch của tướng Nguyễn Hữu An chính là để “dắt mũi quân địch”. 

Đúng như dự đoán, phát hiện bộ đội chủ lực Tây Nguyên của ta, bộ chỉ huy quân Mỹ ở Sài Gòn điều động sư đoàn bộ binh 4 Mỹ đổ quân chiếm tuyến bàn đạp đông sông Pô Cô, thiết lập các trận địa pháo tầm xa ở Sùng Lễ, Sùng Thiện, mở cuộc hành quân Paul Rivere 4 vào vùng Sa Thầy hòng “tìm diệt” quân chủ lực ta. Khi hai tiểu đoàn Mỹ mới xuống bãi đổ, chưa kịp triển khai đội hình “lùng diệt” đối phương đã bị bộ đội Trung đoàn 320 bố trí trận địa ở đây tập kích gây nhiều thiệt hại. 

Trên đài quan sát tướng An mô tả “ Trận bão đạn pháo nổ như sấm sét trùm kín bãi đất bằng phẳng nơi bọn Mỹ vừa đặt chân xuống. Sự bất ngờ khủng khiếp hơn tất cả mọi khủng khiếp mà chúng có thể tưởng tượng được. Trên đài quan sát ta nhìn rõ, sau từng đám khói tan, bọn lính Mỹ chết đè lên nhau, những tên còn sống chạy hoảng loạn không nơi trú ẩn”

Quả đúng như vậy, từ ngày 25 tới 28-10, bằng các chiến thuật tập kích, phục kích, truy kích, bộ đội ta đã diệt hai đại đội Mỹ, tiêu hao một đại đội khác. Bị đòn đau, bộ chỉ huy Mỹ buộc phải điều thêm quân lên tây sông Pô Cô để đối phó với ta. Nhưng đều bị thất bại thảm hại dẫn đến ngày 28-11-1966, quân Mỹ rút khỏi khu vực phía đông và tây sông Sa Thầy. Sau đó, Mỹ có tiếp tục “cứu vớt” tình thế nhưng đều sa vào trận địa mà tướng An đã chuẩn bị sẵn. Với lần gắng gượng không thành này, quân Mỹ buộc phải chấm dứt cuộc hành quân “tìm diệt” mang tên Paul Rivere 4.

Một lần nữa, Nguyễn Hữu An với tài thao lược “dụ địch và điều địch” khiến quân Mỹ khiếp sợ. Ông cùng với tướng Lê Trọng Tấn trở thành cặp bài trùng “không đối thủ” trên chiến trường với những chiến thắng liên tiếp sau đó.

Cuối 1968, tướng Nguyễn Hữu An được giao chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn 308 – đây cũng là sư đoàn có nhiều thành tích xuất sắc trong hai cuộc kháng chiến và được giao nhiệm vụ là sư đoàn chủ công trong những trận đánh mở đường vào Sài Gòn. Đầu năm 1969, với cách đánh sáng tạo, Nguyễn Hữu An phối hợp lực lượng khác đã chỉ huy sư đoàn đánh tan 30 ngàn quân Ngụy được yểm trợ bằng pháo binh, không binh Mỹ. Chính chiến thắng đường 9 Nam Lào có ý nghĩa quyết định, phá tan chiến lược Việt Nam Hóa chiến tranh của Mỹ. 

Năm 1972 , Tướng An trực tiếp quay trở lại chiến trường ác liệt nhất khi đó là lò lửa của cuộc chiến tranh Quảng Trị. Nơi đang diễn ra cuộc đối đầu quyết liệt giữa hai chiến tuyến của quân ta và quân địch. Từ kinh nghiệm của nhiều chiến dịch trước đó, sau khi dựa vào phân tích tình hình địch và ta, tướng An đã đề nghị cấp trên cho Sư đoàn lúc này triển khai cách đánh từ tiến công sang  phòng ngự phản công. Ông đã điện thoại cho đại tướng Võ Nguyên Giáp, trình bày phương án và sau khi được tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ đạo sư đoàn xây dựng chốt liên hoàn phục kích và phản công địch.  Sau 81 ngày đêm quyết giữ thành cổ dưới sự lãnh đạo của tướng Nguyễn Hữu An, chiến thuật của ông đã phát huy hiệu quả trên chiến trường Quảng Trị. Thắng lợi này đã tác động rất lớn tới kết quả của Hiệp định Pari sau đó.

Sau chiến dịch Quảng Trị, ông  lại nhận lệnh Bộ quốc phòng về làm phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng mặt trận Trị Thiên. Dưới dự lãnh đạo của ông, quân và dân Trị thiên xóa sổ nhiều khu quân sự, chia cắt quân địch.

Đầu 1975, Nguyễn Hữu An giữ chức tư lệnh quân đoàn 2, nhận hướng chủ yếu tổng tiến công nổi dậy xuân 75. Cục tác chiến chọn hướng tiến công Tây Bắc Huế, nhưng sau khi nghiên cứu thấy nếu dựa vào hướng tấn công này quân ta sẽ không  có nhiều lợi thế nên sau đó tướng An đã đề xuất thay đổi sang hướng Tây Nam Huế.

Ngày 8.3.1975 dưới lệnh của tướng An, toàn quân đoàn đồng loạt nổ súng, thừa thắng xông lên giải phóng thành phố Huế. Đúng 10h, 25.3 cờ giải phóng kéo lên. Ngày 27.3 quân đoàn 2 tiến thẳng vào Đà Nẵng sau 32h chiến đấu ác liệt đã giải phóng Đà Nẵng. 

Kết thúc chiến dịch Huế – Đà Nẵng. Ông tiếp tục cùng hơn 32 nghìn chiến sĩ hành quân hàng nghìn km, dùng sức mạnh áp đảo quân địch , phá hủy thu giữ hàng trăm phương tiện và bắt sống quân địch buộc chúng đầu hàng vô điều kiện.  

Ngày 16.4 dưới sự trực tiếp chỉ huy của tướng An, Quân đoàn 2 đã  đập tan phòng thủ Phan Rang, mở toang cánh cửa thép áp sát Xuân Lộc. Nguyễn Hữu An tiếp tục đưa lực lượng mạnh nhất thọc sâu vào Sài gòn, hàng nghìn xe cơ giới và thiết giáp giải phóng Sài gòn. 

Những giọt nước mắt đã rơi trên khóe mắt tướng An ngay cổng của Dinh Độc Lập. Đó là những giọt nước mắt hạnh phúc không thể diễn tả bằng  lời, trong suốt hơn 30 năm là vị tướng trận mạc, đối diện với kẻ thù, với những nỗi đau khi đồng đội, đồng chí hy sinh.

Chính đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gọi ông là “vị tướng của trận mạc”, là một trong những tướng trận xuất sắc nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam bằng tài mưu lược, chiến thuật “chủ động linh hoạt thay đổi hướng đánh và cách đánh, sức dùng một nửa mà vẫn chiến thắng”.

THU TRANG (TH)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *