Nguyễn Văn Trỗi và bí mật đằng sau án tử

Trong những năm 1963-1964, lực lượng biệt động nội thành Sài Gòn đã tổ chức nhiều trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao, góp phần làm phá sản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ Ngụy. Đầu 1964, Mỹ tiếp tục âm mưu mở rộng cuộc chiến tranh, cử trực tiếp Bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara sang Việt Nam, tăng cường lực lượng cũng như vũ khí cho VNCH. 

Nhận được thông tin, một tổ biệt động nhận nhiệm vụ tiêu diệt phái đoàn này. Tuy nhiên, nhiệm vụ bị bại lộ, tổ biệt động có hai người bị bắt vào tối 9/5/1964. Một trong hai người đó là Nguyễn Văn Trỗi. Sau khi Nguyễn Văn Trỗi bị bắt, chính quyền Nguyễn Khánh khi đó tìm mọi cách nhanh nhất có thể để xử tử anh. Nhưng chúng đã không thực hiện được theo đúng kế hoạch.

Vậy tại sao chính quyền VNCH lại muốn xử án Nguyễn Văn Trỗi càng nhanh càng tốt? Đằng sau án tử của Nguyễn Văn Trỗi có điều gì bí ẩn?

Trước hết chúng ta cùng tìm hiểu về quá trình hoạt động cách mạng của Nguyễn Văn Trỗi, vụ đặt bom không thành khiến anh bị bắt cũng như bối cảnh lịch sử khi đó để hiểu thêm về những bí ẩn đằng sau án tử của anh hùng Nguyễn Văn Trỗi. 

Nguyễn Văn Trỗi sinh ngày 1/2/1940, là con thứ ba trong gia đình có tên là Tư Trỗi. Sinh ra trong một gia đìnhnghèo tại làng Thanh Quýt, xã Ðiện Thắng, huyện Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Vì mẹ mất sớm, tuổi thơ anh theo cha ra Ðà Nẵng kiếm kế sinh nhai. Sau hiệp định Genève, gia đình anh vào Sài Gòn sinh sống, tá túc tại nhà người anh họ ở Vườn Xoài. Lúc đầu, anh đạp xích lô, sau theo học nghề điện.

Ở đất Sài Gòn, Nguyễn Văn Trỗi đã tìm được hai điều quý giá nhất đời mình: thứ nhất là lòng yêu nước, là lý tưởng cách mạng, lý tưởng của một người cộng sản; thứ hai là một mối duyên tình tha thiết với người con gái dịu dàng Phan Thị Quyên, sau đó là vợ anh.

Khi phong trào học sinh, sinh viên và đấu tranh trong nội thành dâng cao, anh Trỗi tham gia tích cực. Năm 1963, anh nhanh chóng được giác ngộ và kết nạp vào Đoàn thanh niên, trở thành một chiến sĩ trong tổ chức Biệt động thành, Ðại đội quyết tử cánh Tây Nam Sài Gòn.

Năm 1964, anh được đưa ra căn cứ học chính trị và tập huấn cách đánh biệt động nội thành ở căn cứ Rừng Thơm, Ðức Hòa, Long An. Tại đây, anh gặp các đồng đội Ba Sơn, Tư Kiếm, Nguyễn Hữu Lời. Sau lớp học, bốn người được tổ chức thành một tổ hoạt động và được chỉ thị mục tiêu đánh. 

Cũng trong thời gian này tổ biệt đội của anh nhận một nhiệm vụ quan trọng: đánh bom tiêu diệt Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Robert McNamara khi sang Việt Nam theo chỉ thị của cấp trên. 

Tháng 3/1964, sau khi thống nhất kế hoạch, cả 4 người ra trên đường Công Lý theo dõi đường đi nước bước của McNamara khi sang Sài Gòn. Mọi người rút ra quy luật chung là đoàn xe ra đón McNamara từ sân bay Tân Sơn Nhất vào trung tâm thành phố theo đường Công Lý. Ra đón Bộ trưởng quốc phòng Mỹ bao giờ cũng có đầy đủ các nhân vật cao cấp quân sự và dân sự Mỹ cùng chính quyền Sài Gòn.

Ngày 2/5/1964, Nguyễn Văn Trỗi nhận nhiệm vụ đặt mìn ở cầu Công Lý để ám sát phái đoàn quân sự chính trị cao cấp của chính phủ Mỹ do Bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara dẫn đầu. Vì mới kết hôn với chị Phan Thị Quyên được 19 ngày nên tổ đã không muốn giao nhiệm vụ cho anh. Tuy nhiên, anh xung phong và quyết tâm thay một đồng đội khác đã có con nhỏ vì “hạnh phúc gia đình không ảnh hưởng tới quyết tâm đánh Mỹ”.

Tổ biệt động do anh Tư Kiếm cầm đầu được giao nhiệm vụ. Lúc đó, ba phương án tác chiến được Ban chỉ huy cấp trên nhanh chóng thông qua. Phương án một là thuê một căn nhà cạnh đường Công Lý, mìn định hướng đặt trong nhà, việc câu dây, bảo vệ trái mìn dễ dàng, thuận tiện hơn, không lo bị phát hiện. Phương án hai là chôn hai trái mìn gần đầu cầu Công Lý đón xe của McNamara qua cầu, vừa xuống dốc thoai thoải thì mìn nổ. Phương án ba, nếu McNamara không vào thành phố theo đường Công Lý thì tiếp tục theo dõi, đón đánh khi McNamara rời Sài Gòn.

Công việc đang được chuẩn bị thì tổ biệt động nhận thông báo rằng phái đoàn của McNamara sẽ tới Sài Gòn vào thứ hai, ngày 11/5/1964, tức là sớm hơn dự kiến hai tuần. Ngay lập tức, Tư Kiếm triệu tập gấp anh em trong tổ. Nguyễn Hữu Lời chạy sang Gia Ðịnh tìm Ba Sơn và Nguyễn Văn Trỗi. Nhà chưa kịp thuê, vì vậy phương án hai được triển khai, tức là phục kích tại đầu cầu Công Lý.

Tư Kiếm họp anh em trong tổ bàn lại kế hoạch đưa mìn tới bãi rác gần cầu Công Lý. Ba Sơn kéo xe ba gác, trên chất gạch, cát, xi măng chết, trái mìn 8kg giấu trong thùng. Nguyễn Hữu Lời cầm tập sách đóng vai một học sinh lảng vảng ở cầu để báo hiệu cho Ba Sơn vào cầu lúc địch bớt chú ý tới người qua lại. Tư Kiếm thủ trong người một quả lựu đạn đi theo bảo vệ Ba Sơn. Còn Nguyễn Văn Trỗi chờ ở ngã tư Yên Ðỗ – Trương Minh Giảng (nay là Lý Chính Thắng – Trần Quốc Thảo), sẵn sàng đón Ba Sơn hoặc Tư Kiếm nếu việc bại lộ.

Đúng như dự kiến, Ba Sơn kéo xe chở than lên cầu Trương Minh Giảng, bị cảnh sát giữ lại nhưng anh đã nhanh trí nói chuyện với tên cảnh sát để đi qua. Nhìn Ba Sơn trong vai thợ hồ với bộ quần áo còn bết cứng từng mảng vữa, đất, mồ hôi ròng ròng trên mặt, tên cảnh sát không chút nghi ngờ khoát tay cho xe anh qua. Ba Sơn cúi rạp người kéo xe ba gác vượt cầu, Tư Kiếm thong thả đi theo bên lề đường.

9 giờ 30 phút tối 10/5/1964, tổ của Tư Kiếm xuất phát để hoàn tất phần chuẩn bị sau cùng, bảo vệ Lời làm nhiệm vụ rải dây điện nối vào trái mìn. Tuy nhiên, đến giờ xuất kích, Ba Sơn lại bị kẹt xe, đến chậm. Tình thế phải khẩn trương, anh Trỗi tha thiết xin được nhận nhiệm vụ nguy hiểm này. Sợi dây điện từ trái mìn đến nhà cầu phải rải theo dòng kênh. Muốn thế phải chờ nước kênh lên cao mới giấu mình trong dòng nước mà rải dây. Gần 12 giờ đêm, Lời từ nhà Tư Kiếm đi bộ theo đường Trương Minh Giảng – Trần Quang Diệu – Công Lý, đến dãy cầu tiêu công cộng đã gặp Nguyễn Văn Trỗi chờ đấu hai đầu dây vào thỏi pin giấu ở nhà cầu. Chiếc xe máy Sharp của anh Trỗi mới dựng ở đầu đường vào dãy cầu tiêu chuẩn bị chở Lời khi công việc hoàn thành.

Nhưng rất tiếc hôm đó, nước kênh quá cạn. Không thể đứng đây chờ nước lên ngập người, Lời nghe ngóng rồi ôm cuộn dây điện tụt xuống kênh, quờ tay rút những dây rau muống vắt lên người rồi nhẹ nhàng rải cuộn dây điện trên bè rau muống, tiến tới bờ cây đặt trái mìn. Vì nước cạn nên sự di chuyển của anh phát ra tiếng động và bị phát hiện. Ðấu hai đầu sợi dây vào trái mìn rồi anh lần trở về chỗ nhà cầu. Mới đến giữa bè rau muống thì anh sững lại. Có tiếng người lao xao càng lúc càng lớn. Tiếng chân chạy rậm rịch trên con hẻm phía nhà cầu, Lời biết anh Trỗi bị bắt ở ngay nhà cầu. Chúng khẳng định còn một người nữa dưới kênh và sục sạo bờ kênh. Anh vừa nhô lên bám vào bờ kênh, định bò vào bờ cây thì một họng súng thúc mạnh vào ngực. Nguyễn Văn Trỗi và người đồng đội Nguyễn Hữu Lời đã bị bắt khi đang làm nhiệm vụ vào lúc 22 giờ ngày 9/5/1964. 

Chuyện không thành, nhưng vụ ám sát McNamara lan về nước Mỹ, gây chấn động cả nước Mỹ và toàn thế giới. Sự kiện này như một tia chớp báo hiệu cơn sấm sét sẽ trút xuống đầu kẻ thù, đặc biệt gây hoang mang và sức ép rất lớn lên chính quyền Nguyễn Khánh lúc bây giờ. Sau khi đảo chính chính quyền Ngô Đình Diệm, chính quyền Nguyễn Khánh đang tìm mọi cách một mặt đàn áp các cuộc đấu tranh chống đối chính quyền VNCH, mặt khác ra sức lấy lòng Mỹ mà cụ thể là Bộ trưởng Quốc Phòng Mác Namara. Sự việc đánh bom khiến Nguyễn Khánh gấp rút xử lý để lấy niềm tin của Mỹ và sớm dập tắt ảnh hưởng của nó. 

Nói về chính quyền Nguyễn Khánh, sau cuộc đảo chính lật đổ anh em Ngô Đình Diệm (tháng 11/1963), Nguyễn Khánh được “Hội đồng quân nhân cách mạng” phong hàm Trung tướng vì có công “án binh bất động” trên Tây Nguyên khi xảy ra cuộc đảo chính lật đổ anh em Ngô Đình Diệm.

Nhưng chỉ 3 tháng sau đó, ngày 30/1/1964, Nguyễn Khánh cầm đầu tổ chức thực hiện cuộc “chỉnh lý” phế truất Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân… và tự xưng là Chủ tịch “Hội đồng quân nhân cách mạng” kiêm Tổng tư lệnh quân đội. Ngày 28/2/1964, ông Khánh tiếp tục phế truất Nguyễn Ngọc Thơ và lên làm Thủ tướng, ngày 16/8/1964, ông Khánh ban hành “Hiến chương Vũng Tàu”, để tự phong chức “Quốc trưởng”, “Thủ tướng” và “Tổng tư lệnh”, kiêm “Tổng tham mưu trưởng của quân lực Việt Nam cộng hòa”…

Thời gian Nguyễn Khánh cầm quyền cũng là lúc các cuộc biểu tình của nhân dân miền Nam và cả số tướng lĩnh chính quyền Sài Gòn phản đối Khánh nổ ra khắp nơi. Đặc biệt các phong trào biểu tình kéo đến nơi làm việc của ông ta, giương cao khẩu hiệu “đả đảo Nguyễn Khánh!”.

Sau vụ bắt Nguyễn Văn Trội, phong trào đả đảo chính quyền Nguyễn Khánh càng dâng cao. Đặc biệt vì đối tượng ám sát là Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ nên Nguyễn Khánh rất mong muốn “lập công, chuộc tội” với chính quyền Mỹ. Tuy nhiên không ngờ, những cuộc đấu tranh lúc trong tù, trong phiên tòa của Nguyễn Văn Trỗi đã gây tiếng vang khủng khiếp mà chính Nguyễn Khánh cũng không thể ngờ tới.

Ngày 10/8/1964, anh Nguyễn Văn Trỗi và Nguyễn Hữu Lời bị đưa ra tòa án quân sự chính quyền Sài Gòn. Tại tòa, anh Trỗi nhận hết toàn bộ về mình và khẳng định: “Tôi giết bọn cướp nước tôi.” Ðập lại những luận điệu của tên quan tòa, anh dõng dạc nói: “Các ông mà cũng nói đến pháp luật sao? Không có thứ pháp luật nào cho phép quốc gia này đi xâm lược quốc gia khác! Mỹ xâm lược Việt Nam là đã chà đạp lên những điều cơ bản của luật pháp! Thế mà các ông còn nói rằng quốc gia của các ông có pháp luật!”

Dẫu vậy,  tòa án quân sự tìm mọi cách để kết án tử hình và chúng đã định ngày xử bắn. Nhưng ngược lại với sự đau khổ, hoảng loạn hay mất tinh thần chiến đấu, Nguyễn Văn Trỗi với ung dung hiên ngang. Vừa bãi tòa, một chớp sáng lóe lên. Anh Trỗi nhận ra người vừa chụp hình anh có vẻ lén lút, liền vẫy lại hỏi: “Tôi có làm điều gì xấu xa, không chính đáng đâu mà ông không dám chụp hình tôi một cách đàng hoàng”. Người chụp hình trả lời chân thành: “Thưa ông, tôi là ký giả. Tôi rất khâm phục ông. Xin ông cho phép tôi chụp bức hình kỷ niệm”.

Hình ảnh hiên ngang, những lời nói như chính từng viên đạn, mũi tên bắn thẳng vào chế độ Mỹ, Ngụy đã lan tỏa ra khắp quốc tế, khiến phong trào đấu tranh đòi thả Nguyễn Văn Trỗi, phản đối cuộc chiến tranh tại Việt Nam dâng cao. Chính tài liệu của chính quyền Nguyễn Khánh đã thừa nhận việc muốn đẩy nhanh tử hình anh. 

Trong tài liệu VNCH có lưu giữ hồ sơ nói về quá trình xét xử anh Nguyễn Văn Trỗi. Hồ sơ gồm 4 tài liệu cho biết tiểu sử, quá trình tham gia cách mạng của anh Trỗi, mô tả lại sự kiện ngày 9/5 tại cầu Công Lý, việc anh Trỗi bị bắt, tự nhận tội về mình. Bên cạnh đó còn hé lộ một số thông tin cần chú ý như chính quyền Nguyễn Khánh định thi hành án tử hình anh Nguyễn Văn Trỗi vào cuối tháng 8/1964, sau đó việc thi hành án phải tạm ngừng cho đến 10/1964.

Tài liệu biên bản Hội đồng ân xá ngày 17/6/1964 cho biết Hội đồng ân xá nhóm họp tại phòng Bộ Tư pháp, số 47 đại lộ Thống Nhất Sài Gòn vào lúc 17h ngày 17/8/1964 để xét các đề nghị ân xá và bày tỏ ý kiến về các khoản ân giảm cho phạm nhân được hưởng. Tài liệu này viết: “Ngày 9/5/1964, nhờ có mật báo, cảnh sát quận 3 đã bắt được Nguyễn Văn Trỗi đang chuyền dây điện cho một tên Việt cộng dưới ao rau muống gần cầu Công Lý. Nguyễn Văn Trỗi thú nhận đã gia nhập tổ chức Việt cộng khu Sài Gòn – Gia Định do Lê Đức Hiền làm tổ trưởng và chính Trỗi đã dụ được Nguyễn Hữu Lời gia nhập tổ chức. … Nguyễn Văn Trỗi và Nguyễn Hữu Lời bị bắt quả tang khi đang thi hành công tác phá hoại nói trên. Tại nha cảnh sát Đô Thành, chúng xác nhận đã hành động như trên, Nguyễn Văn Trỗi nhảy qua cửa sổ tầng lầu 2 để tự vẫn, nhưng chỉ bị trầy xương chân mặt mà thôi”. Và kết quả: “Sau khi xem xét, Hội đồng ân xá đề nghị bác đơn xin ân xá của Nguyễn Văn Trỗi, vì việc bảo vệ an ninh cho chính khách các quốc gia bạn của Việt Nam Cộng hòa cần được thực hiện một cách hữu hiệu bằng cách thực hành bản án tử hình tên Việt cộng này”.

Ngoài biên bản trên, hồ sơ nói về quá trình xét xử anh Nguyễn Văn Trỗi còn có: Quyết định ngày 22/8/1964 của Hội đồng Nội các trong phiên họp ngày 19/8/1964 v/v thi hành bản án xử Nguyễn Văn Trỗi về việc đặt plastic phá hoại cầu Công Lý; Sắc lệnh bác đơn xin ân xá, đặc biệt có một mảnh giấy viết tay ghi : Vì tình hình sau ngày 25/8/1964, Bộ Tư Pháp đã tạm ngưng vụ hành quyết cho đến ngày 7/10/1964 đã hành quyết tại trung tâm cải huấn Chí Hòa.

Qua các tài liệu trên, có thể thấy chính quyền Nguyễn Khánh đã rất muốn đẩy nhanh việc tử hình anh Nguyễn Văn Trỗi và định việc này vào cuối tháng 8/1964. Tuy nhiên, việc này phải tạm ngưng lại vì sau ngày 25/8/1964 có liên tiếp các phong trào biểu tình chống Nguyễn Khánh tình hình chính trị bất ổn, các cuộc binh biến diễn ra liên tiếp. Sau đó, chính quyền Nguyễn Khánh định tử hình anh Trỗi ngày 7/10/1964.

Tuy nhiên kế hoạch của VNCH vẫn không thành bởi một sự kiện tại nước Nam Mỹ xa xôi. Sự kiện Nguyễn Văn Trỗi thực hiện ám sát McNamara qua báo chí đã đến với các thành viên phong trào cánh tả có cảm tình với Việt Cộng ở Mỹ Latin. Đội du kích quân Caracas (Venezuela) lên kế hoạch bắt một tướng khác của Mỹ để đòi đổi lấy mạng anh Trỗi. Họ nói “Nếu ở Việt Nam xử bắn anh Trỗi thì một giờ sau ở Venezuela, quân du kích sẽ thủ tiêu trung tá Mỹ”.

Cụ thể, du kích ở Caracas, Venezuela, thực hiện phi vụ bắt cóc đại tá Mỹ Michael Smolen nhằm đổi mạng cho Nguyễn Văn Trỗi vào hôm 9/10/1964. Nhân chứng duy nhất của vụ bắt cóc đổi mạng năm 1964, Carlos Argenis Martínez Villalta, kể lại:

“Sự việc xảy ra vào buổi sáng ngày 9/10/1964. Một nhóm bốn người, trong có đồng chí David Salazar, đồng chí Carlos Rey Gómez và tôi lái xe đến phố Los Mangos và chờ bên ngoài khu căn hộ của nhân viên CIA cao cấp, đại tá Michael Smolen, tùy viên sứ quán Mỹ tại Venezuela. Sáng đó ông ta đi làm muộn hơn thường lệ vì có ăn sáng với sếp của ông ta là Đại tá Henry Lee. Khoảng 8 giờ, thấy ông ta và Lee bước ra. Khi họ chuẩn bị lên xe thì xe của chúng tôi áp lại gần và tôi hô lớn: Đứng lại! Đây là giải phóng quân! Henry Lee chạy mất nhưng chúng tôi đã bắt được Smolen, kéo lên xe của chúng tôi và chở đi.Chúng tôi giữ ông ta ba ngày trong một căn hộ gần Đại lộ El Porvenir… Chúng tôi nói với ông ta về cuộc chiến phi nghĩa của Hoa Kỳ ở Việt Nam, về các trận ném bom, về Nguyễn Văn Trỗi, tại sao chúng tôi lại thực hiện phi vụ này để đổi mạng ông ấy”.

Sự kiện đã gây tiếng vang rất lớn, các báo đài đều nói về việc đại tá Mỹ bị bắt, dư luận rất nhiều. Trong ba ngày, phe du kích Caracas không trực tiếp thương lượng được với chính phủ Hoa Kỳ về việc đổi mạng, nhưng thông tin về vụ bắt đại tá Michael Smolen, Mỹ đành phải ra lệnh cho chính quyền Sài Gòn hoãn lại ngày hành hình anh Trỗi.

Tuy nhiên, sau khi viên sĩ quan này vừa được trả tự do thì chính quyền Sài Gòn trở mặt, vội vàng đưa Nguyễn Văn Trỗi ra pháp trường Chí Hòa xử bắn vào lúc 9h45 ngày 15/10/1964 trước sự chứng kiến của nhiều phóng viên nước ngoài.

Khi ra pháp trường tại sân sau nhà lao Khám Chí Hòa, anh rất bình thản, đàng hoàng, tiếp tục tố cáo tội ác của Mỹ Ngụy “Anh không chấp nhận rửa tội mà còn khẳng định “chính bọn Mỹ, Ngụy mới là kẻ có tội, là thủ phạm gây ra cảnh xóm làng tan nát, cảnh lầm than chết chóc, cảnh con mất cha, vợ mất chồng.”. Khi chúng bịt mắt anh, anh giật tấm băng đen rồi nói: “Không, phải để tôi nhìn mảnh đất này, mảnh đất thân yêu của tôi”. Trước họng súng quân thù, anh hiên ngang hô to: “Hãy nhớ lấy lời tôi/ Đả đảo đế quốc Mỹ/ Đả đảo Nguyễn Khánh/ Hồ Chí Minh muôn năm/ Hồ Chí Minh muôn năm/ Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam muôn năm!”

Kể cả khi anh đã nằm xuống, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn chưa hết bàng hoàng và khiếp sợ về ý chí của người cộng sản. Chúng phải bí mật cho chôn xác Nguyễn Văn Trỗi và tìm mọi cách bịt kín thông tin về sự kiện này.

THU TRANG (TH)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *