Lạnh gáy với 3000 cái chết ở núi tượng

Quý vị thân mến, nhắc đến bọn Khmer Đỏ Pol Pot nhiều người không khỏi xót xa trước sự tàn ác dã man vô nhân đạo mà chúng gây ra đối với người Campuchia và Việt Nam. Bè lũ Pol Pot tàn độc đến độ mất hết nhân tính, chúng xử tử người bằng các công cụ thô sơ khiến cuộc sống của người dân Campuchia sống không bằng chết. Song song với việc tàn sát trong nước, Khmer Đỏ tìm cách tấn công các nước láng giềng và điểm đến của chúng chính là Việt Nam. Pol Pot đã ra sức vu khống, đặt điều: “Việt Nam xâm lược, cướp đất, cướp đảo của Campuchia.” Năm 1975, khi Việt Nam chúng ta đang tìm cách vực dậy hậu chiến tranh sau ngày thống nhất đất nước, Pol Pot tận dụng thời cơ thừa nước đục thả câu, đưa quân tấn công các đồn biên phòng, làng mạc, thị trấn biên giới của Việt Nam, tàn sát dã man dân thường. Đến cuối năm 1975 và cả năm 1976, chúng tiếp tục gặm nhấm, gây rất nhiều tội ác ở vùng biên giới Việt Nam, chúng còn hùng hổ tuyên bố: Việt Nam là kẻ thù số 1, kẻ thù vĩnh cửu của Campuchia. Những con thú mặt người khát máu này ngang nhiên mở rộng xung đột thành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Kinh hoàng nhất có lẽ là cuộc thảm sát 3000 người dân vô tội tại xã Ba Chúc trong 12 ngày đêm của quân Khmer Đỏ, nhấn chìm ngôi làng nhỏ trong tang thương. Những đứa trẻ mới lên 5 khóc lóc thảm thiết:“Cha ơi, mẹ ơi đừng giết con”. Ngoảnh mặt lại chỉ thấy máu me tung tóe, rùng mình và ám ảnh. Vậy sự thật đằng sau vụ thảm sát 3000 người chết ở núi Tượng như thế nào? Tại sao quân Pol Pot lại gây ra thảm án kinh hoàng như vậy? Để biết được câu trả lời chính xác chúng ta hãy cùng nhau nhìn lại những tội ác tày trời của bè lũ Pol Pot gây ra cho Việt Nam nhé!

Dưới sự hà hơi tiếp sức của Trung Quốc, Pol Pot như hổ mọc thêm cánh, chúng không chỉ vu oan giáng họa rằng Việt Nam xâm lược Campuchia mà còn tiếp tay cho lũ phản động Pol Pot bằng nhiều thủ đoạn tài trợ, giúp đỡ nhân dân Campuchia trong việc chống giặc ngoại xâm. Từ đó tạo nên 1 lực lượng ngầm tiến hành cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam nước ta. Ngay lập tức, quân Pol Pot đã gây hấn đánh phá và giết hại những người nông dân chân lấm tay bùn của Việt Nam. Gần 600 người dân vô tội đã chết trong cuộc tấn công ngày 24/9/1977 của quân Khmer Đỏ, trong đó có cả cuộc hành quyết tập thể 11 giáo viên trường tiểu học Tân Lập đúng dịp toàn dân Việt Nam chuẩn bị Tết Trung Thu. Chúng đốt phá nhà cửa, trường học, cướp của, tàn sát đồng bào ta rất dã man. 1 số ít dân chúng may mắn sống sót gồng gánh chạy loạn, thấy vậy bọn ác thú sử dụng đủ các loại vũ khí man rợ từ đao, búa đến các loại súng, lựu đạn,… để tàn sát. Pol Pot trực tiếp xuống tay không thương tiếc, chặt đầu, chặt tay chân, chặt người ra nhiều khúc, mổ bụng, moi gan, xé xác trẻ em ném vào lửa, đập đầu hãm hiếp phụ nữ, mổ bụng phụ nữ có thai, cắt cổ lấy máu, rạch miệng, ném xác người xuống giếng, chôn sống, tàn sát tập thể nhiều gia đình. Những người dân vô tội ở Tân Lập đã bị chúng sát hại, những thi thể la liệt, chất chồng khắp nơi. Những đám cháy bốc lên mùi thịt người khét lẹt. Tại Trường Tiểu học Tân Lập, xác những cô giáo trẻ, các em học sinh bị lính Khmer Đỏ sát hại nằm ngổn ngang trên sân trường.

Nhưng đó vẫn chưa phải cuộc thảm sát kinh hoàng nhất, vụ thảm sát tại Ba Chúc do bọn Pol Pot thực hiện là đỉnh điểm tội ác đối với nhân dân Việt Nam. Những ký ức đau thương đó vẫn còn hiện rõ trong trí nhớ người dân Ba Chúc cho đến ngày nay khi cuộc sống đã hòa bình. Họ nói rằng: Chưa lúc nào và sẽ chẳng bao giờ máu có thể ngừng loang trong lòng họ được. Vậy quân Pol Pot đã sử dụng những thủ đoạn ghê tởm nào tàn sát hàng nghìn người vô tội? Sự thật đằng sau hơn 3000 xác chết ở núi Tượng như thế nào?

Sau ngày giải phóng đất nước, nhân dân xã Ba Chúc bắt tay vào công cuộc xây dựng quê hương, hàn gắn vết thương chiến tranh. Nhưng Ba Chúc chưa được hưởng hòa bình bao lâu thì người dân lại phải đương đầu với cuộc chiến biên giới Tây Nam khốc liệt của tập đoàn diệt chủng Pol Pot. Đêm ngày 30/4/1977, lợi dụng thời gian Việt Nam đang long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 2 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước thì Pol Pot ghen ăn tức ở, vô cớ xua quân tấn công vào 8 tỉnh biên giới Tây Nam của nước ta, trong đó có An Giang mà xã Ba Chúc chính là nơi chúng tập trung đánh phá ác liệt, tổn thất nặng nề nhất. Từ đó đến cuối tháng 2/1978, Pol Pot đã đánh phá vào nơi đây trên 30 lần. Đỉnh cao của tội ác đó là vụ thảm sát 3157 người dân xã Ba Chúc trong những ngày cuối tháng 4 rực lửa. Bắt đầu từ ngày 15/4/1978 quân Pol Pot liên tục nã pháo vào xã Ba Chúc, ước tính mỗi ngày liên tới hơn 1000 quả, có ngày lên tới 2000 quả, các cánh quân nằm sát biên giới lúc nào cũng trong trạng thái chuẩn bị tấn công. Ngày 17/4/1978 sau trận mưa pháo phủ đầu, bọn Pol Pot chia làm 2 cánh quân đánh sâu vào Ba Chúc. Một cánh quân chiếm xã An Lập (phía đông Ba Chúc) nhằm khóa đường rút lui của dân chúng, một cánh quân đánh chiếm ấp An Bình dưới chân núi Dài. Chúng tràn vào mọi nhà đánh phá, cướp sạch tiền vàng, giết hại trâu bò. Nhưng như thế vẫn chưa đủ thỏa mãn ý nguyện của bọn khát máu, lính Pol Pot còn lùng bắt người dân, dồn họ ra những cánh đồng lớn để bắt đầu hành quyết dã man. Những cảnh tượng giết người đẫm máu diễn ra khắp nơi, không có 1 từ ngữ nào có thể lột tả hết tội ác “ trời không dung, đất không tha” của chúng. Lũ Pol Pot thản nhiên bắn người tập thể, cắt cổ, dùng búa dao đập vào đầu người dân. Trẻ em cũng bị chúng xé xác làm đôi hoặc nắm hai chân đập đầu vào gốc cây, bờ đất, vách tường hay quăng lên không cho rơi xuống lưỡi lê ở phía dưới. Phụ nữ thì bị chúng lột quần áo, hãm hiếp, thọc cây tầm vông, cán búa hoặc nhét đá, đất, lá cây vào cửa mình cho đến chết.

Có thể thấy, ngôi làng nhỏ Ba Chúc đã chìm trong khói lửa. Bom đạn của quân Khmer Đỏ liên tiếp rải trên những mái nhà, lửa cháy nghi ngút, tiếng hét, tiếng khóc thất thanh xé ngang bầu trời, từng dòng người tìm đường tháo chạy. Xưa nay ở xứ này chiến tranh đâu có xa lạ, trong thời chống Pháp, thời chống Mỹ cũng súng đạn bắn cả ngày lẫn đêm nhưng là lính đánh lính, chứ tuyệt đối không giết hại dân thường vô tội. Thậm chí, biết người dân trú trong chùa, bọn Pol Pot bắn pháo vào hậu liêu chùa, làm chết 40 người, xác chết ngổn ngang chồng chất lên nhau. Lúc đó, trong chùa vẫn có hơn 800 người trú ngụ. Mọi người đưa 20 người bị thương ra ngoài, tìm cách đưa đi chữa trị, nhưng bọn Pol Pot bao vây kín mít, không còn đường thoát, nên lại phải quay về chùa. Hôm sau, chúng khép kín vòng vây chùa, bắt 800 người, phân thành từng nhóm, dắt đi nơi khác thủ tiêu. Có 4 người già yếu, thương nặng không đi được, chúng bắn chết luôn trong chùa, rồi phóng hỏa đốt chùa. Người chết chồng lên người chết, đau đớn chồng lên đau đớn, cao đến tận trời xanh. Nhiều nhóm người may mắn chạy lên núi Tượng, chui vào hang đá để lẩn trốn sự truy sát của quân Pol Pot. Những ngày tháng sống chui rút trong hang tối giống như loài chuột, không thức ăn, thiếu nước uống nhưng luôn thừa thãi sự sợ hãi tột cùng. Nhiều ngày liền không có lương thực, lũ trẻ con ngây thơ òa lên vì đói khát. Để bảo vệ tính mạng cho hàng chục con người đang lẩn trốn trong hang, người ta đã bàn nhau đến 1 việc kinh hoàng chính là bức tử những đứa trẻ. Nếu đứa trẻ mất đi cha mẹ sẽ là trẻ mồ côi. Vợ mất chồng gọi là góa phụ. Nhưng còn cha mẹ mất con thì chẳng có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau nào và chỉ có người trong cuộc mới thấu. Một mạng người hay chục mạng người? 1 người đàn ông nghẹn lòng đau xé lòng khi nghe đứa con mới lên 5 của mình bật khóc : “Cha ơi, mẹ ơi đừng giết con”. Người ta vẫn thường nói: hổ dữ cũng không ăn thịt con. Ấy vậy mà trong hoàn cảnh bất đắc dĩ này, người bố quay mặt sang 1 góc, trong khi tiếng thằng bé tắt dần, tắt dần, mọi thứ chìm vào tĩnh lặng. Không 1 từ ngữ nào có thể diễn tả! Thế nhưng, sự hy sinh của đứa trẻ không ngăn được cơn cuồng sát của quân Pol Pot. Quân Pol Pot thực hiện khẩu hiệu đốt sạch, phá sạch và giết sạch trong 11 ngày đêm chiếm đóng, ngày nào Pol Pot cũng chia ra từng tốp dẫn chó săn đi lùng từng ngõ ngách, vườn tược, hang động trên núi Tượng để tàn sát những người còn sót lại. Hơn lúc nào hết, khát vọng sống trỗi dậy mạnh mẽ, những người nông dân đã cố gắng tìm đủ mọi cách để đưa mọi người đến nơi an toàn. Tất cả đều cố gắng lấy hết sức của mình chạy về nơi bộ đội ta đang cố thủ. Họ hy vọng được cứu sống và tái sinh 1 lần nữa. Thế nhưng, họ đã gặp phải những tên khát máu lên cơn phẫn nộ, chúng không ngừng bắn giết khiến người chết như ngả rạ, máu bắn tung tóe.  Về số tài sản mà chúng cướp được ngay lập tức chuyển trở về bên kia biên giới cái nào không lấy được thì đốt sạch từ nhà dân cho đến các công trình công cộng. Đó là những ngày tháng đen tối hơn cả địa ngục của ngôi làng Ba Chúc. Cả Ba Chúc hoàn toàn bị triệt hạ không còn 1 ngôi nhà nguyên vẹn người chết nằm như ngả ra, ngổn ngang.  Chỉ vỏn vẹn 12 ngày chiếm đóng Ba Chúc, đội quân “mặt quỷ” từ bên kia biên giới đã biến Ba Chúc thành địa ngục. Chúng đã tàn nhẫn giết hại 3157 thường dân, phá nát nhà cửa, đốt cháy ruộng đồng, hoa màu trên 22 xã, 112 con trâu bò và súc vật khác bị giết, 8 xã bị hủy diệt hoàn toàn. Theo các con số thống kê, từ tháng 5/1975 tới tháng 12/1978, Khmer Đỏ thực hiện gần 10.000 cuộc tấn công vào biên giới Việt Nam, giết hại hàng nghìn thường dân, bắt và mang đi thủ tiêu hơn 20.700 người; đốt phá hơn 21.200 nóc nhà, trường học, bệnh viện, chùa chiền, khiến 400.000 người sống ở dọc biên giới rơi vào cảnh màn trời chiếu đất, đi lánh nạn. Vốn là một đất nước ưa chuộng hòa bình, Việt Nam vẫn tìm cách giải quyết các tranh chấp bằng đàm phán hòa bình. Nhưng Khmer Đỏ lại tỏ ra hết sức ngông cuồng và không cho thấy có dấu hiệu hợp tác. Điều này buộc các lực lượng vũ trang Việt Nam đứng lên chống trả, tìm lại cuộc sống bình yên cho người dân.

Đến ngày 30/4/1978, quân đội ta đã đánh đã tiêu diệt 38.563 quân Khmer Đỏ, bắt sống 5.800 tên, đồng thời dùng không quân phối hợp với bộ binh triển khai các cuộc không kích và giao tranh trên bộ, đánh vào các đơn vị quân Khmer Đỏ dọc biên giới, nhằm làm suy yếu quân Khmer Đỏ. Bằng ý chí sắt đá, nghị lực và tinh thần thép, sự đồng lòng của quân và dân ta đã đánh đuổi mọi kẻ thủ, không để đất nước bị xâm lăng, chúng ta đã đẩy Pol Pot về bên kia biên giới.

Sau khi Ba Chúc được giải phóng, những người dân còn sót lại của bộ đội ra cánh đồng rộng lớn gánh xương người chết về đặt tạm trước cửa chùa Tam Bửu. Những nấm mồ như hang Ba Lê, Phi Lai Tự, Tam Bảo tự… cũng lần lượt mọc lên như một minh chứng ngàn đời cho nỗi đau của người dân dọc mảnh đất biên viễn phía Tây Nam của Tổ quốc.  Hơn 1.000 hộp sọ được phân loại theo độ tuổi rồi bày biện trên các giá thép. Nhiều hộp sọ vẫn còn nguyên vết thủng do đạn bắn, vết nứt vỡ vì bị gậy gộc đập vào. Những hốc mắt trống không, u uẩn hướng đăm đăm ra ngoài khiến du khách tới thăm phải khẽ rùng mình. Ám ảnh nhất phải kể đến là khu đặt hài cốt của trẻ sơ sinh. Hàng chục hộp sọ bé xíu chưa kịp thành hình hoàn chỉnh xếp chồng lên nhau đã bắt đầu ngả sang màu đen xỉn. 

Quý vị thân mến, chiến tranh đã lùi xa, đất nước đã hoàn toàn giải phóng, người dân đang sống trong hòa bình, thị trấn vùng biên Ba Chúc đang ngày 1 đổi thay và phát triển mạnh mẽ. Nhưng dư âm kinh hoàng của cuộc thảm sát đẫm máu khi xưa vẫn còn ám ảnh khôn nguôi. 1 lễ giỗ tập thể đã được tỉnh An Giang ấn định vào ngày 15 và ngày 16/3 âm lịch hàng năm để  nhắc nhở nỗi đau vẫn chưa hề lành.  Tất cả vẫn nhắc nhớ người còn sống về 12 ngày đêm thảm sát kinh hoàng ở Ba Chúc. Có những nỗi đau dường như đã thành vĩnh cửu, nhắc lại để không lãng quên sự thật lịch sử. Cũng không phải để nuôi hận thù hay xới lại chuyện tang thương, mà để những người hôm nay hiểu đúng lịch sử, trân trọng không khí hòa bình.

THU TRANG (TH)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *