Kỷ vật 10 cô gái Đồng Lộc kể lại chuyện tình yêu nơi tọa độ lửa

Trong những năm tháng chiến tranh, ngã ba Đồng Lộc ( huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) được ví như yết hầu của tuyến giao thông Bắc- Nam thời chiến tranh chống Mỹ. Máy bay Mỹ dội bom cả ngày lẫn đêm đủ loại: bom từ trường, bom đào, bom nổ chậm, bom bi.. Đồng Lộc chìm trong biển khói, mặt đất biến dạng, hố bom chồng lên hố bom, đất bị cày đi xới lại, không 1 ngọn cỏ nào có thể mọc nổi. Chính vì hứng chịu nhiều trận dội bom dữ dội của không quân Mỹ, ngã ba Đồng Lộc là nơi gắn liền với sự hy sinh anh dũng của cả 10 cô gái thanh niên xung phong bị vùi lấp trong một hố bom, khi bát cơm chiều chưa kịp ăn, nồi cá còn kho dở. Một tiếng bom kinh hoàng xé tan bầu trời, rung chuyển mặt đất đã vang lên, vài chiếc xẻng, cuốc vǎng ra nhưng không còn thấy một ai, không nghe thấy tiếng của bất cứ một người nào. Cả 10 cô gái trẻ đã hy sinh... Trong số hàng nghìn tư liệu, dấu tích còn sót lại cho đến ngày hôm nay thì những kỷ vật của 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc được chú ý nhất. Khi 10 cô gái còn sống thì đây đều là những kỷ vật gắn liền với cuộc sống sinh hoạt thường ngày. Chỉ với những đồ vật hết sức giản dị, đời thường, thế nhưng nó lại chính là nguồn động viên tinh thần to lớn tiếp thêm sức mạnh cho 10 cô gái “ chân yếu tay mềm” dám đối mặt với mưa bom bão đạn của kẻ thù. Khi các chị hy sinh thì những kỷ vật này đã hóa bất tử. Ít ai biết rằng, đằng sau những kỷ vật thiêng liêng ấy còn gắn liền với câu chuyện đẫm nước mắt. Thậm chí, 1 số binh lính Mỹ may mắn sống sót quay trở về đã ám ảnh không nguôi về những kỷ vật đặc biệt của 10 cô gái. Vậy những kỷ vật nào gắn liền với hình ảnh của 10 cô gái? Phía sau chúng còn ẩn chứa những câu chuyện tâm linh bí ẩn nào chưa được tiết lộ? Để biết được câu trả lời chính xác chúng ta hãy cùng nhau ngược dòng lịch sử quay lại năm 1968, khi không quân Mỹ dội bom ác liệt trên mảnh đất Ngã ba Đồng Lộc nhé!

Một ngày tháng 7 nắng gắt ở Đồng Lộc, lúc 16 giờ ngày 24/7/1968 tiểu đội 4 gồm 10 cô gái trẻ thanh niên xung phong được lệnh trọng điểm ở khu vực địch vừa thả bom để san lấp hố bom sửa chữa đường, kết hợp sửa chữa hầm trú ẩn, khơi sâu rãnh thoát nước ở đoạn đường độc đạo để nhanh chóng thông đường cho xe qua. Đang kho dở nồi cá, khi nhận nhiệm vụ, các cô gái hăng hái lên đường. Với nhiệt huyết của tuổi trẻ, 10 cô gái ra đến hiện trường đã nhanh chóng triển khai công việc, người đào, người xúc hồ hởi, vừa làm việc vừa nói chuyện vui vẻ để xua tan đi cái khốc liệt của chiến trường. Ngày hôm ấy, sau vài lần máy bay trinh sát đi qua, là 15 lần các tốp máy bay khác nối đuôi nhau lao tới trút bom liên tiếp vào ngã ba. Ngay lập tức, tất cả chị em nhanh chóng nép mình vào triền đồi, nơi thành hố bom cũ tạo nên 1 cái rãnh lớn. 1 lúc sau, hết tiếng máy bay gầm gú trên bầu trời, cả tiểu đội lại tiếp tục đứng dậy làm việc hăng say. Bất ngờ, 1 trong tốp chiếc máy bay của không quân Mỹ lúc nãy quay lại, thả 1 loạt bom như mưa xuống mảnh đất nghèo nàn này. 1 quả bom rơi trúng trước cửa hầm các chị đang trú ẩn. Tiếng nổ chát chúa, đất đá tung tóe, khói bom mù mịt, đen ngòm trùm lên cả đội hình 10 cô gái.  1 phút rồi 5 phút trôi qua, trên đài quan sát không thấy ai trong số 10 cô gái đứng dậy. Cả trận địa lặng đi thế rồi, các tiểu đội thanh niên xung phong đi sau chạy đến lên gào thét, òa khóc nức nở, bộ đội, nhân dân xóm Bãi Dĩa quanh đấy cũng lao ra gọi tên từng người. Khi mọi người đến nơi quả bom vừa nổ thì không còn thấy 1 ai, không nghe thấy 1 tiếng người. Cả 10 cô gái trẻ đã anh dũng hy sinh!

Suốt đêm hôm đó và cả ngày hôm sau đồng đội, người dân đã đào bới cả ngày lẫn đêm để tìm kiếm thi thể  các chị. Những người tìm kiếm chỉ dùng tay đào bới chứ không thể dùng máy xúc vì không muốn gây hại cho thi thể. Theo những người tìm kiếm thi thể các cô gái, lúc bấy giờ 1 hâm có 3 người, 1 hầm có 6 người. Chỉ duy nhất thi thể của chị Hồ Thị Cúc là chưa được tìm thấy. Nhà thơ Yến Thanh – anh cán bộ kỹ thuật của ngành giao thông vận tải lúc bấy giờ đã nấc nghẹn kể lại: “ Từ đài quan sát, đại đội trưởng Nguyễn Thế Linh chạy xuống, Tiểu đội 5, tiểu đội 8 và các anh lái máy ủi gần đó đều chạy lại. Sau hai tiếng đồng hồ vừa đào vừa khóc, lúc mặt trời khuất trên eo núi Trọ Voi, hoàng hôn bắt đầu buông xuống thì đào phải cán chiếc cáng và túi thuốc cấp cứu. Gỡ lên đất vội tụt xuống để lộ mái tóc đen hiện ra. Bới nhẹ đất bồng lên được chị Võ Thị Tần, thân thể đang mềm, cơ thể còn ấm nhưng trái tim đã ngừng đập, mặt tím tái. Không ai bảo ai, tất cả đều ngả mũ nón: Thế là hết! Hàng trăm khối đất đá tung lên, lấp xuống. Tần nấp sau cùng không còn thì những người khác làm sao sống nổi.” Rồi lần lượt những người ẩn nấp hầm ngoài cùng là chị Nguyễn Thị Xuân, Nguyễn Thị Nhỏ, rồi đến Võ Thị Hà, Trần Thị Rạng và cuối cùng là Trần Thị Hường. Đào tiếp hầm thứ hai vuông góc với hầm lúc nãy thì tìm thấy thi thể của chị Dương Thị Xuân, Võ Thị Hợi và Hà Thị Xanh. Tất cả đã anh dũng hy sinh, cơ thể còn nguyên vẹn còn ấm nóng nhưng trái tim đã ngừng đập. Cả 9 người được đặt lên 9 cáng xếp 1 hàng ngang như khi tiểu đội tập hợp lúc còn sống. Riêng thi thể của Tiểu đội Phó Hồ Thị Cúc là không tìm thấy. Đêm 24/7/1968, 9 cô gái được mai táng sau eo núi, nhưng phải đợi tìm được thi thể chị Cúc mới làm lễ truy điệu. Đến ngày thứ 2 ngày 26/7/1968, các anh ở tiểu đội 8 mới tìm thấy thi thể chị Cúc “ Chị ngồi trong chiếc hố cá nhân chiều hôm trước do tay chị đào, đầu đội mũ bẹp dí, vai còn vác cuốc, hai tay chị bầm dập, máu đọng lại đã khô. Có lẽ sau khi bom vùi lấp, chị còn sống và đã cố gắng để thoát ra nhưng trước khối đất đá đồ sộ, chị đành bất lực hy sinh.”. Cả 10 cô gái đã hy sinh khi đang còn rất trẻ, phần lớn các chị đều chưa lấy chồng. Các chị đã bỏ lại gia đình, bỏ lại tuổi xuân đồng đội và cả những câu chuyện tình sắt son còn dang dở trong tuyến bom đạn.

Đặc biệt, trong những ngày tìm kiếm thi thể các chị vùi lấp trong đất đá, những người tìm kiếm còn tìm thấy 1 số kỷ vật ngay tại hố bom nơi 10 cô gái nằm lại đất mẹ. Một trong những kỷ vật neo lại trong lòng thế hệ hôm nay là bức thư từ trận tuyến gửi cho mẹ của liệt sĩ Võ Thị Tần – Tiểu đội trưởng tiểu đội 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc.  Chị Võ Thị Tần, Tiểu đội trưởng Tiểu đội 4, một trong 10 cô gái đã hy sinh tại Đồng Lộc, nhà ở xã Thiên Lộc (Huyện Đồng Lộc), chỉ cách Ngã ba Đồng Lộc chừng 15 km nhưng hiếm  khi chị có thời gian về thăm nhà, thăm gia đình bé nhỏ. Ngày 19/7/1968, trước khi hy sinh 5 ngày, chị Tần đã viết vài dòng thư về cho mẹ: “…Mẹ ơi! Chiều nay chúng con lại thắng thằng Mỹ một keo nữa. Con kể để mẹ mừng nhé! Trưa nay hàng chục máy bay giặc kéo đến trút bom lên Ngã ba Đồng Lộc, với yêu cầu nhanh chóng thông đường, mặc dù trời còn sớm nhưng tất cả chúng con đều xông lên mặt đường để kịp thời cứu chữa. Trong thời gian chúng con làm, máy bay giặc có kéo đến trinh sát, chúng tưởng đâu đường sá đã bị tan nát bởi cơn mưa bom của chúng. Nhưng chúng có mắt cũng như mù, chính lúc đó là lúc đoạn đường đang được nối liền bằng cả tâm hồn và trí lực của chúng con. Trời xẩm tối, những chiếc xe mang nặng tình hậu phương lại lăn bánh trên đường ra tiền tuyến. Chúng con vui sướng vẫy chào những chiến sĩ lái xe anh dũng. Mẹ của con, thấy giặc đánh nhiều hơn dạo trước, mẹ chắc là lo cho chúng con lắm. Nhưng không, mẹ đừng lo, ở đây vui lắm mẹ ạ. Ban đêm chúng thắp đèn để chúng con làm đường, ban ngày chúng đem bom giết cá để chúng con cải thiện. Bom đạn của chúng có thể làm rung chuyển núi rừng nhưng không có thể làm rung chuyển được những trái tim của chúng con…”.

Chẳng ai có thể ngờ được rằng đó là bức thư cuối cùng mà chị gửi về cho gia đình. Bức thư đã phản chiếu những hình ảnh cam go khốc liệt của cuộ chiến tranh nhưng đối với những cô gái bé nhỏ vừa tròn tuổi đôi mươi lại coi đó là niềm vui. Phải chăng nhờ sự lạc quan ấy mà những chiến sĩ trên tọa độ chết – Ngã ba Đồng Lộc mới hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao?

Ngoài bức thư gửi mẹ, kỷ vật lọn tóc thề cùng chiếc lược của nữ tiểu đội trưởng Võ Thị Tần tái hiện câu chuyện tình sắt son còn dang dở trong tuyến bom đạn giữa chị và chàng trai cùng làng. Với lũ giặc Mỹ  tiểu đội trưởng Võ Thị Tần can trường, anh dũng là vậy còn với mối tình đầu của mình thì người thiếu nữ ấy lại trong sáng vô cùng giản dị. Chuyện kể rằng, trước khi tham gia chiến trường chị Tần và chàng trai  Nguyễn Đức Hồng cùng làng có lời hẹn thề ngày thống nhất đất nước sẽ nên duyên vợ chồng. Để chứng minh tình yêu và lòng chung thủy, chị Tần gửi lọn tóc của mình cho người yêu, còn anh Hồng trao tặng chiếc lược màu trắng ngà cho chị. Cả 2 đều hy vọng sớm đánh đuổi quân thù và thực hiện lời hứa hẹn năm xưa. Tuy nhiên những ước hẹn đó giờ mãi là dĩ vẵng, họ yêu nhau nhưng không đến được với nhau và ở bên nhau suốt đời. Lời hứa hẹn năm xưa đã không thể thực hiện khi người con gái dũng cảm, gan dạ ấy đã hi sinh nơi chiến trường để lại nỗi đau không thể nào nguôi. Lọn tóc thề và chiếc lược là 2 kỷ vật được chàng trai cất giữ suốt nhiều năm trước khi trao lại cho bảo tàng. Với anh Nguyễn Đức Hồng đó là kỷ vật vô giá, là minh chứng cho tình yêu trong chiến tranh đầy lãng mạn nhưng cũng rất bi tráng của các chị đã góp phần tô đậm “địa chỉ đỏ” này- Nơi mà giữa ranh giới giữa sự sống và cái chết rất mong manh thì tình yêu Tổ quốc, tình yêu đôi lứa cùng niềm tin vào ngày thắng lợi đã chiến thắng tất cả những thứ vũ khí tối tân nhất, hiện đại nhất hay những sự tàn bạo nhất trong lịch sử chiến tranh.

Cạnh chiếc lược cùng lọn tóc thề là chiếc nồi kho cá được đồng đội tìm thấy trong lán trại vào ngày các chị hy sinh. Ngày ấy vào buổi chiều tháng 7 năm 1968, khi đang kho dở nồi cá thì đơn vị nhận được lệnh ra lấp hố bom cho xe thông qua.  Ngoài ra còn có 2 đôi dép cao su, cùng mũ, cuốc xẻng được tìm thấy tại hố bom các chị hi sinh. Đặc biệt, còn có 3 chiếc áo của chị Võ Thị Hợi, Nguyễn Thị Xuân, Trần Thị Hường lấm lem bùn đất, chỗ lành chỗ rách. Đó còn là đó có chiếc áo của chị Nguyễn Thị Xuân. Sau khi chị hy sinh, người em gái vẫn thường mặc chiếc áo của chị như vật gắn bó của mình. Trên áo vẫn còn nhiều vết ố do bùn bám. Một số kỷ vật khác như chiếc đồng hồ của chị Võ Thị Hà, 3 đôi dép cao su  các chị đều được cán bộ bảo tàng Ngã ba Đồng Lộc cất công tìm kiếm, đến nhà người thân để tìm hiểu và xin lại. 

Những kỷ vật của chị Trần Thị Hường đã được gia đình bàn giao lại cho cán bộ Bảo tàng Nghệ Tĩnh. Trong đó có chiếc áo sợi len đan ngắn tay chị để lại cho bà trước lúc lên đường đi chiến đấu với tất cả tình cảm của đứa cháu gái đi xa, sưởi ấm thêm cho bà khi đông về giá rét. Chiếc áo được bà nâng niu cất giữ với tấm lòng thương cháu không nguôi. Ngoài chiếc áo len còn có cuốn học bạ của chị Trần Thị Hường khi chị tham gia lớp học ở  trường Bổ túc văn hóa cấp 2 Thanh niên xung phong đội 55  Hà Tĩnh năm 1967- 1968,  do cậu ruột là Trần Hậu Tịch, giáo viên trường cấp 1, 2 xã Thạch Tân, huyện Thạch Hà giao lại cho cán bộ Bảo tàng Nghệ Tĩnh.  Hiện vật thứ 3 là lý lịch đoàn viên của chị Trần Thị Hường, sinh hoạt ở chi đoàn Bồng Sơn, thị xã Hà Tĩnh kê khai năm 1967. Tiếp theo là cuốn sổ ghi chép các bài hát, bài thơ, bài học chính trị. Bìa sổ màu hồng đã ngã màu thời gian. Trong cuốn sổ bút tích của mình, ngay tờ đầu tiên chị chép: “Trong cuốn nhật ký của mình, anh hùng liệt sỹ Nguyễn Văn Lịch đã viết: “Sống thì làm cách mạng đến cùng. Nếu cần thì phải hy sinh cho thật xứng đáng”;  và chị đã tự nhủ mình “đó là một phương châm cao cả cho thế hệ thanh niên chúng ta- Hãy cố gắng Hường nhé! Ngày 21-12-1967″.  Dù mảnh đất Đồng Lộc ngày ấy không khi nào ngớt tiếng bom đạn, chỉ tính riêng từ tháng 4 đến tháng 10 năm 1968, Ngã ba Đồng Lộc phải gánh chịu gần 50.000 quả bom các loại, bình quân mỗi 1m2 đất nơi đây phải gánh chịu trên 3 quả bom, đất đá bị cày đi xới lại, hố bom chồng lên hố bom. Chiến tranh ác liệt là vậy, nhưng trong tâm hồn những thiếu nữ tiểu đội 4 vẫn phơi phới sự lạc quan, yêu đời. Và chị Trần Thị Hường được mệnh danh là “con chim sơn ca” của tiểu đội. Phải chăng chính sự lạc quan, yêu đời, tin vào chiến thắng đã giúp các cô gái của chúng ta vượt qua mọi khó khăn thử thách, dù mưa bom bão đạn cũng không thể nào hạ gục ý chí và tinh thần yêu nước của những thiếu nữ xinh đẹp, gan dạ.

10 cô gái thanh niên xung phong anh hùng, những cô gái bất tử bên dòng sông La đã hóa vào đất đá, tạo thành hoa lá dệt nên màu xanh hòa bình của dân tộc Việt Nam. Tên của các chị đã hóa thành tên chung: 10 Cô gái Ngã Ba Đồng Lộc, là đại diện cho hàng trăm, hàng nghìn người từ mọi miền Tổ quốc đã hy sinh trên vùng đất linh thiêng này. Những giọt máu trong trắng của các chị đã thấm sâu vào đất mẹ, góp phần dựng lên biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam kiên cường, bất khuất, trung hậu, đảm đang. Quả đúng như câu nói “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Các chị đã gửi lại tuổi thanh xuân của mình, bỏ lại những mối tình dang dở để dệt nên gấm vóc Việt Nam hùng cường, giành lại độc lập tự do cho dân tộc, là những bông hoa đẹp nhất mãi mãi tỏa hương thơm trong các loài hoa.

THU TRANG (TH)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *