Hai mẹ con cứu mạng Đại tướng, Bộ trưởng quốc phòng Phạm Văn Trà và cách trả ơn của một Đại tướng

Đại tướng Phạm Văn Trà (sinh ngày 19-8-1935), quê xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị (khóa VIII, IX), nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1997-2006), Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Đại biểu Quốc hội (khóa IX – XI). Ông nổi tiếng là vị tướng dạn dày trận mạc, gan góc, thông minh với những trận đánh bất ngờ, táo bạo đã làm kẻ thù khiếp sợ. Hơn nửa thế kỷ chinh chiến, ông đã trải qua mọi thang bậc, vị trí của người lính, từ những cấp bậc như chiến sĩ liên lạc, tổ trưởng 3 người cho đến cán bộ cấp sư đoàn, quân khu, rồi Tổng tham mưu trưởng, Thứ trưởng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Song ít ai biết rằng, xoay quanh vị tướng dạn dày trận mạc còn gắn liền với những câu chuyện thấm đẫm nước mắt khiến ông không thể nào quên. Đó là hai mẹ con cậu bé đã cứu sống ông khi ông bị thương gần đồn địch. Năm 1966 trong 1 lần đột nhập căn cứ địch, ông bị bắn trọng thương, gãy chân, phải lết đi dọc theo bờ kênh. Khi đó, một bé trai khoảng 7,8 tuổi đã mang thức ăn đến cho ông. Tối hôm đó, cậu bé đi cùng mẹ ra dìu ông về nhà. Hai mẹ con chăm sóc vết thương cho ông, rồi đưa ông trở về vùng du kích. Vậy hai mẹ con đã cứu đại tướng Phạm Văn Trà là ai? Sau khi cứu đại tướng, cuộc sống của họ ra sao? Để biết được câu trả lời chính xác, chúng ta hãy cùng nhau đi tìm hiểu chuyện chưa kể về Đại tướng Phạm Văn Trà ngay sau đây!

56 năm trong quân ngũ, ông đã kinh qua tất cả các cấp bậc, chức vụ của quân đội, từ một chiến sĩ liên lạc, rồi trở thành Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Khi về hưu, ông vẫn luôn được người dân trìu mến nhắc đến với cái tên thân thương “anh Ba Trà”. Ông là Anh hùng LLVTND, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng – Đại tướng Phạm Văn Trà. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có 5 anh chị em, ông là người con thứ ba. Trên ông có một chị gái đã đi du kích, một anh trai là thanh niên xung phong, cả nhà đều tham gia Cách mạng nên ý định đứng lên cùng đồng bào giữ nước đã nhen nhóm trong ông ngay khi còn nhỏ. Năm 1945, chứng kiến cảnh hàng vạn đồng bào miền Bắc chết đói la liệt, do thực dân Pháp áp bức quá tàn tệ, cậu bé lớp 4 đã quyết tâm lớn lên sẽ đi bộ đội, sẽ chiến đấu giành lại độc lập cho đất nước.Năm 1949, chú ông bị địch giết. Đến năm 1952, cha của ông cũng chết trong một trận càn quét của địch. Khi ấy, ông 16 tuổi, đang cùng du kích chống càn. Nghe tin dữ, ông chạy về đau đớn ôm thi thể người cha còn ấm nóng trên tay, nuốt nước mắt hứa với cha sẽ vào bộ đội, trả thù nhà, nợ nước. Đúng một năm sau, ông xin nhập ngũ. Ông khai thêm tuổi, nhét thêm đá vào túi quần cho nặng cân để đủ tiêu chuẩn nhập ngũ, nhưng xã không đồng ý vì vừa thiếu tuổi, lại vừa thấp bé nhẹ cân. Ở xã không được, ông lên tỉnh xin nhưng tỉnh cũng không cho. Không chịu lùi bước, ông tiếp tục lên quân khu xin nhập ngũ. May mắn là khi ấy chiến trường đang rất cần người nên quân khu đã nhận ông. Vậy là ông bắt đầu nhập ngũ từ 19/8/1953, khi tất cả tiêu chuẩn về chiều cao, cân nặng đều thiếu. Đến năm 1958, ông được phong Chuẩn uý và được cử đi học lục quân, nhưng một lần nữa, ông không được nhận vì “thấp bé nhẹ cân” quá. Đến năm 1960, ông được phong hàm Thiếu úy. Một năm sau đó, ông về Tiểu đội 3 Trung đoàn 64. Đến năm 1963, ông được đi học bổ túc Trường Sĩ quan của Quân khu 3 trong 6 tháng. Nhưng mới học được khoảng 4 tháng ông bất ngờ nhận lệnh về Quân khu nhận nhiệm vụ mới: Đi học ở nước ngoài. Rồi mãi sau đó, ông mới được cấp trên “bật mí” một nhiệm vụ hoàn toàn khác: ở trên quyết định chọn một số đồng chí có kinh nghiệm để đưa vào Nam chiến đấu, làm hạt nhân đánh Mỹ ở Đồng bằng sông Cửu Long. Ông kể khi ấy, yêu cầu đặt ra là mỗi người phải cõng được 32kg – tương đương với 32 viên gạch thì mới đủ điều kiện hành quân vào Nam chiến đấu. Ông lúc đó có hơn 40kg nên yêu cầu này không phải dễ. Ban đầu, ông luyện tập cõng được 12 viên, rồi 16 viên, 18 viên. Sau 6 tháng rèn luyện gian khổ, ông cõng được 32 viên gạch – đủ tiêu chuẩn để đi. Nhưng khi chuẩn bị hành quân, chỉ huy thấy ông nhỏ quá nên bắt ở lại. Người chỉ huy nói rằng: “Đi bộ vào miền Nam phải mất 7 tháng trời ròng rã, mà em nhỏ quá sợ không đi được”. Ông xin nhưng chỉ huy không cho. Và rồi ông phải năn nỉ 3 ngày trời mới thuyết phục được cấp trên. Vậy là từ 14/8/1954, ông chính thức có mặt trong đội hình hơn 160 người lính tinh nhuệ, hành quân bộ “xẻ dọc Trường Sơn” vào miền Tây Nam bộ. Từ đây, ông đã có 12 năm là bộ đội của Trung đoàn 1 U Minh, bám trụ chiến đấu khắp miền Tây Nam bộ. Tiếp đó, ông lại có gần 10 năm làm nghĩa vụ quốc tế trên đất nước Chùa Tháp.

Khi hòa bình chưa lập lại, ông xây dựng gia đình với một người phụ nữ miền Bắc. Nhưng vừa cưới vợ chưa được bao lâu, ông nhận lệnh vào miền Nam chiến đấu, ròng rã trong suốt 12 năm ông không gặp lại vợ. Thậm chí khi ấy, ông đã tự tay viết cho người vợ trẻ một bức thư, với nội dung đại ý là: “Em còn trẻ, chiến tranh lâu dài tôi sợ không về được. Hãy cố chờ tôi, nếu vài năm nữa không về thì em đi lấy chồng cũng được, vì lúc ấy em vẫn còn trẻ, không đi bước nữa tôi sợ em sẽ phải chịu thiệt thòi”… Ông để bức thư trong túi áo, gửi áo ấy về cho vợ và dặn mấy năm sau hãy mở bức thư ra xem. Nếu khi ấy chưa thấy ông về thì hãy đi tìm hạnh phúc khác. Nhưng có lẽ ông là người may mắn, bởi vợ ông vẫn son sắt chờ đợi trong suốt những năm trời đằng đẵng ông đi chiến đấu. Sau cuộc chiến ấy, ông đón vợ vào Nam. Nhưng không được bao lâu thì ông tiếp tục nhận nhiệm vụ tham gia cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam gần 10 năm. May mắn hơn nữa, trong khoảng thời gian ngắn ngủi bên vợ, vợ chồng ông có một cậu con trai. Sau này, khi người vợ thứ nhất qua đời, ông đi bước nữa và có thêm một người con trai với mái ấm hạnh phúc mới.

Ngoài gia đình, ông không quên nhắc tới “ân nhân” của cuộc đời mình, đó là hai mẹ con cậu bé đã cứu sống ông khi ông bị thương gần đồn địch. Năm 1966, trong một lần đột nhập căn cứ địch, ông bị địch bắn trọng thương. Nhờ mẹ con một cậu bé, ông được cứu sống. Kể cả khi còn chiến tranh, cả khi đã làm Đại tướng, suốt đời, Đại tướng Phạm Văn Trà vẫn day dứt khôn nguôi. Vậy người phụ nữ chân yếu tay mềm đã cứu sống đại tướng Phạm Văn Trà là ai? Còn những bí ẩn nào về câu chuyện hồi sinh thần kỳ của ông mà chưa được tiết lộ?

đầu tháng 6 -1966, Tiểu đoàn 309 Trung đoàn 1 mang bí danh U Minh mà ông là Tiểu đoàn phó đứng chân ở huyện Long Mỹ (nay thuộc tỉnh Hậu Giang). Khu vực này, kênh rạch chằng chịt, ở các ngã ba, ngã tư những con kênh rạch ấy là đồn địch giăng đầy, chúng lùng sục, càn quét liên miên hòng tách bộ đội ra khỏi dân.

Tháng 10 – 1966, Quân khu 9 chủ trương mở chiến dịch Đông Xuân 1966 -1967. Mục đích là diệt nhiều sinh lực địch, diệt đồn bốt, đánh phá “ấp tân sinh”, “ấp chiến lược” vùng Giồng Riềng – Long Mỹ- Ngang Dừa, từ đó sẽ tiến công lên Cần Thơ – Rạch Giá, hỗ trợ phong trào đô thị phát triển, chuẩn bị tiến tới đánh bại “Chiến tranh cục bộ” của địch trên chiến trường miền Tây.

Tiểu đoàn 309 của Phạm Văn Trà được Quân khu xem là lực lượng chủ công, đảm trách nhiệm vụ chủ yếu đánh chi khu quân sự Ngang Dừa, một căn cứ quân sự mạnh của quân nguỵ và lính của Sư đoàn 21 nguỵ được liệt vào loại lính “có nghề” thuộc dân “anh chị” của miền Tây. Tiểu đoàn 309 đã đánh trận mở màn, gây thiệt hại nặng cho chi khu Ngang Dừa, tiêu diệt và bức hàng được 3 đồn địch xung quanh nhưng kết quả vẫn chưa đánh dứt điểm được chi khu này. Trong khi đó, các đơn vị  bạn lập công lớn. Biết thắng thua trong trận mạc là lẽ thường tình nhưng cả ban chỉ huy tiểu đoàn lẫn anh em trong đơn vị ai nấy bứt rứt không yên, mong có cơ hội lập công. Một tháng sau, địch đưa Tiểu đoàn 3, trung đoàn 31, thuộc Sư đoàn 21 nguỵ xuống bình định Long Mỹ, hòng ngăn chặn Việt cộng. Căn cứ dã ngoại của chúng đóng dọc trên kênh xáng Long Mỹ, sát chi khu quận lỵ. Xung quanh căn cứ được bảo vệ nghiêm ngặt bằng nhiều hàng rào kẽm gai, các hỏa điểm bố trí dày đặc. Dịp may đã đến, Tiểu đoàn 309, được trên giao nhiệm vụ đánh căn cứ này. Sau nhiều đêm suy tính, Phạm Văn Trà và anh em đi trinh sát, nắm kỹ địa hình, từng vị trí hoả điểm của địch, để chuẩn bị phát lệnh tiến công. Khi đó, Phạm Văn Trà được giao phụ trách hai phân đội dự bị. Một đêm cuối tháng, bầu trời đầy sao. Tiểu đoàn hành quân bằng xuồng theo ánh sao rọi đường, men theo vạt lau lách ven bờ, hướng tới tiếp cận căn cứ địch. Khoảng 2 giờ sáng, đơn vị chủ công nổ súng nhưng hỏa lực của địch chống trả mãnh liệt. 30 phút, rồi một tiếng đồng hồ trôi qua, diễn biến trận đánh không mấy khả quan. Địch phát hiện quân ta tiến công, chúng phản kích lại, xối xả vãi đạn. Đơn vị dự bị từ xa thấy đồng đội quần nhau với địch, đánh không dứt điểm, lòng dạ ai cũng muốn sôi lên, muốn chạy ngay đến để chia lửa với anh em. Đúng vào lúc đó, Tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho lực lượng dự bị vào trận. Như từ trên trời rơi xuống, từ dưới đất chui lên, hai phân đội dự bị bí mật, luồn sâu, nã đạn vào hang ổ của địch. Bị đánh bất ngờ, địch không kịp phản ứng, tiểu đoàn 3 ngụy bị tiêu diệt gọn. Tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho anh em rút quân trước lúc trời sáng, càng nhanh càng tốt. Tiếng súng tạm im, cũng là lúc trời rạng sáng. Tiểu đoàn phó Phạm Văn Trà được tiểu đoàn trưởng phân công ở lại giải quyết thương vong, tử sỹ, rút về sau, còn phần lớn lực lượng của tiểu đoàn rời khỏi địa bàn. Hoàn tất nhiệm vụ của Tiểu đoàn trưởng giao cũng là lúc trời sáng rõ. Mấy anh em trên đường lui quân thì cũng là lúc phi pháo, máy bay địch thi nhau trút bom, đạn dọc các tuyến lộ, tuyến kênh chặn đường. Tiểu đoàn phó bị một mảnh pháo găm đúng vào cổ chân, không thể đi được.

“Khi đó, bên cạnh tôi chỉ còn lại cậu liên lạc. Băng bó cho tôi xong, cậu liên lạc dìu tôi ra cánh đồng. Mặt trời đã lên cao. Cái nóng bắt đầu hun đốt chúng tôi. Biết mình không thể đi được nữa, tôi lệnh cho cậu liên lạc quay trở về, rằng không thể ở đây chịu chết cả hai. Tôi giữ khẩu súng ngắn và ít đạn phòng bất trắc, nếu gặp địch thì chiến đấu đến cùng. Cậu liên lạc tỏ ra lừng chừng. Tôi đoán cậu ta không nỡ bỏ tôi lại một mình, bỏ tôi lúc này là có lỗi, vì rằng đồn địch ngay gần đó, tôi khó thoát được họng súng địch. Thấy thái độ của cậu liên lạc, tôi ra lệnh. Cậu liên lạc lầm lũi quay đi, vừa chạy, vừa nhìn lại lấy tay quyệt nước mắt”, ông Trà kể. Đồng chí liên lạc đi khỏi, Phạm Văn Trà cố lết thêm một quãng xa bờ kênh, hướng về một ấp gần đó, nhưng sức kiệt dần, phần vì đói khát, phần vì vết thương ra nhiều máu, nhức nhối. Hai tay chống về phía sau, cố ngồi cho vững, chân bị thương máu đã đông lại tím bầm. Trong đầu ông Trà suy tính miên man, làm cách gì để vượt qua lần lâm nạn này. Đúng lúc ấy, từ xa, ông thấy một cậu bé chừng 10 – 12 tuổi theo lối bờ ruộng tiến về phía mình. Ông cố gọi thật to để cậu bé nghe thấy. Cậu bé giật mình, tiến về phía ông, nhìn ông chằm chằm. Ông nhìn bộ quần áo đang mặc, rồi nhìn cậu bé, hẳn là cậu nhận ra ông là quân giải phóng. Chẳng nói, chẳng rằng cậu bé ù té chạy về phía ấp.

“Thêm một rắc rối nữa rồi đây. Tôi lấy súng ra, lên đạn. Phòng trường hợp xấu cậu bé sẽ báo cho địch đến bắt. Không còn cách nào khác, tôi phải chiến đấu. Tôi nín thở chờ đợi, thời gian như chậm lại”, Đại tướng Phạm Văn Trà nhớ lại. Khoảng xế trưa, cậu bé quay lại, tay cắp chiếc thúng, khẽ khàng đặt xuống vệ cỏ, nhìn ông Trà rồi ù té chạy. Ông thở phào. Đợi cậu bé đi một quãng, ông cố lết lại gần chiếc thúng. Ông không tin vào mắt mình, trong thúng có một gói xôi, nửa con gà và một bình nước. Ông xúc động, bất giác nhớ đến chuyện cổ tích có ông bụt hiện lên cứu giúp, mà ngày xưa mẹ kể. Cầm miếng xôi đưa lên miệng, nước mắt ứa ra. Khoảng nhá nhem tối, cậu bé cùng một phụ nữ (sau này ông Trà biết là mẹ cháu) ra dìu ông về nhà. Trong ánh đèn dầu đỏ quạch, ông ngắm nhìn chị, khuôn mặt đoan trang, dáng mảnh mai, tóc bới cao sau gáy… ông nghĩ mình đã gặp người tốt, có thể tin cậy. Chị phụ nữ nhìn ông ngượng nghịu: “Ông xá lỗi cho, biết ông đau, chờ đợi, nhưng má con tôi không biết tính sao. Lính quốc gia nhan nhản ngoài ấp. Ban ngày đón ông sao được, chỉ trông trời tối là má con tôi ra liền”. Ông nói: “Cám ơn chị và cháu đã cứu mạng. Xin chị đừng gọi tôi là ông”. Nhà vắng bóng đàn ông nhưng vì tế nhị, ông không dám hỏi. Biết đâu chồng chị là lính ngụy thì thật trớ trêu. Ông đề nghị chị giấu ông ở ngoài vườn thì tốt hơn. Chị nhìn ông rồi trả lời rành rọt: “Không được, anh ra khỏi nhà là bị bắt ngay. Bây giờ anh đang bị thương, tôi không biết đơn vị anh ở đâu, anh ở tạm trong hầm tránh đạn pháo trong buồng. Nhà tôi nấu rượu, lính đồn ra vào mua rượu thường xuyên. Anh đừng ngại, tôi quen hết lượt bọn họ”. Ông không hỏi tên nhưng nghe loáng thoáng tiếng mọi người gọi chị là Sáu Gương. Hằng ngày chị lo cơm nước, rửa nước muối vết thương cho ông. Đến ngày thứ 6, vết thương bị nhiễm trùng, bắt đầu mưng mủ. Lo lắng hiện trên nét mặt chị. Chị nói với ông: “Kiếm bác sỹ chữa trị cho anh, vết thương sẽ mau lành nhưng như vậy khác nào gửi anh cho lính đồn. Bây giờ tôi không biết đưa anh đi đâu, về đâu?”. Ông năn nỉ chị để ông ra đi: “Nhờ chị đưa tôi đến chỗ nào địch hay dùng phi pháo, máy bay đến bắn phá, nơi đó là đơn vị tôi”. Thấy thái độ cương quyết của ông, sáng hôm sau, giả bộ đưa người nhà đi chữa bệnh, chị đưa ông xuống xuồng nhờ người chở đi.

Nhờ quen biết lính đồn, chị đưa ông qua các trạm gác của địch. Đi cách ấp khoảng 6 km, gặp du kích, chị gửi ông cho họ rồi quay về. Ông được đưa đi chữa trị, một tháng sau vết thương lành, ông trở về đơn vị trong sự ngỡ ngàng của mọi người. Anh em ôm chầm lấy ông, ai nấy đều tưởng ông đã hy sinh.

Khi đã làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, ông đã đi tìm và gặp lại mẹ con người ân nhân. Từ đó, năm nào ông cũng về thăm vùng quê của ân nhân ở Long Mỹ, Hậu Giang để tặng quà, chúc Tết mọi người. Có thể thấy, ông là vị tướng trân trọng từng giọt máu của chiến sĩ trên chiến trường và chăm lo cho những đồng đội, đồng bào còn gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống hoà bình. Sau khi về hưu, ngoài việc nghiên cứu lịch sử chiến tranh, viết sách ông còn dành nhiều thời gian thăm lại chiến trường xưa, thăm những người lính thuộc quyền và người dân đã từng gắn bó, che chở mình thời vào sinh ra tử và tìm cách giúp đỡ họ giữa hoàn cảnh nghèo khốn.

Thu Trang TH

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *