Giải mã bí ẩn xác ướp nghìn năm việt nam giấu kín

Bí ẩn những xác ướp kèm huyền thoại và thông điệp từ một quá khứ thẳm sâu nào đó luôn tạo nên thách thức cho hậu thế trong những cuộc kiếm tìm, giải mã. Đặc biệt, trải qua hàng trăm năm “về với đất”, có những xác ướp trong các ngôi mộ cổ vẫn còn nguyên vẹn hé lộ những bí quyết ướp xác độc đáo từ thời xa xưa của người Việt Nam…

Như quý vị cũng biết, chúng ta đã được tiếp cận thông tin về các hình thức táng cổ xưa như: Tượng táng ở Tiêu Sơn Tự (Bắc Ninh), Mộ thuyền (Bắc Ninh), Táng treo (Suối Bàng, Sơn La), tuy nhiên thuật ướp xác kỳ lạ, cầu kỳ và chứa đầy bí ẩn này thì vẫn còn nhiều bí mật rợn người bị giấu kín, chưa một ai có lời giải đáp rõ ràng. Một điều kỳ lạ là các khớp xương của xác ướp này vẫn còn có thể co, duỗi mềm mại và nhiều vùng da thịt vẫn còn có thể đàn hồi tốt.  Vậy rốt cuộc, bí thuật ướp xác này là gì? Yếu tố đặc biệt nào đã làm các xác ướp vẫn còn nguyên vẹn đến ngày hôm nay? Liệu có “lời nguyền” rùng rợn nào ẩn chứa phía sau?

Theo PGS.TS Nguyễn Lân Cường, Phó Tổng thư ký Hội Khảo cổ học Việt Nam, cho đến nay ở Việt Nam có khoảng trên 100 ngôi mộ hợp chất với những xác ướp chưa phân hủy. Trong đó, việc tìm thấy và khai quật ngôi mộ của vua Lê Dụ Tông (1679-1731) vào năm 1964 đã làm chấn động trong ngành khảo cổ và sử học nước ta đương thời. 

Một sáng mùa xuân năm 1958, trên ngọn đồi rậm rạp cây cỏ, người làm vườn thôn Bái Trạch, xã Xuân Giang, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa bất ngờ phát hiện quách mộ của vua Lê Dụ Tông. Ở gần ngôi mộ có bia tạc, ghi rõ “Lê triều Dụ Tông hoàng đế lăng, Minh Mạng nhị thập thất niên, tứ nguyệt nhị thập ngũ sắc kiến”. Người nông dân này khi phát hiện đã vô tình làm vỡ một mảng để lộ góc quan tài gỗ quý sơn son. Người này cho hay, không giống với các mộ khác bốc lên mùi hôi thối khó chịu, anh ta rất ngạc nhiên vì mộ phần của vua toát lên hương thơm thoang thoảng. Khi các cơ quan chức năng đến, thấy quách hợp chất gồm vôi, mật, cát bị những nhát cuốc vô tình làm vỡ một góc thì họ đã dùng xi măng để hàn tạm lớp quách này. Tuy nhiên, vật liệu xi măng hiện đại lại không thể nào kết dính với lớp vỏ quách cầu kỳ mà người xưa dùng, khiến nước ngấm vào rất nhiều.  

Trước sự nhòm ngó của những kẻ trộm mộ, việc gia tăng canh nông của người dân ảnh hưởng đến khu vực mộ cùng những lời đồn thổi, bàn ra tán vào, cho đến năm 1964 lệnh khai quật mộ đã được ký. Khi nhóm khảo cổ bắt tay khai quật, nhiều người dân địa phương đã tò mò theo dõi, mong tận mắt chứng kiến sự thật trong ngôi mộ nhà vua. Tuy nhiên họ đành thất vọng. Sau khi phá quách, quan tài bằng gỗ quý sơn son được đưa lên mặt đất đã chuyển ngay về Hà Nội để nghiên cứu và đảm bảo điều kiện bảo tồn.

Vào ngày 2/4/1964, quan tài được mở nắp trước sự chứng kiến của các lãnh đạo nhà nước, những nhà khoa học đầu ngành và đặc biệt có Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Sau tấm chăn bông vỏ gấm, thi hài được liệm bởi nhiều lớp quần áo, vải liệm. Khi giở tấm khăn phủ mặt, các nhà khảo cổ hết sức ngỡ ngàng khi thấy da mặt của xác ướp vua Lê Dụ Tông còn màu xám nhạt, sau vài phút thì ngả màu xám đều như toàn thân. Môi của thi hài bị teo để lộ hàm răng đen đã rụng một vài chiếc, cằm có chòm râu đen đã điểm bạc…

Khi bóc hết các lớp quần áo bọc ngoài, thi hài vua Lê Dụ Tông được nhận dạng là 1 người đàn ông cao 1,49m. Thân hình đã bị teo lại nhưng chưa khô, trông như một người gầy ốm mới chết; bụng dưới hơi phồng, khi lấy tay ấn vào bụng thì thấy có hơi và ít nước chảy ra (khác với những xác khác bụng lép). Không có một vết rạch hay châm chích gì trên cơ thể. Kỳ lạ nhất là các khớp xương của nhà vua vẫn còn có thể co duỗi mềm mại và nhiều vùng da thịt vẫn còn đàn hồi. Do chất dầu thơm trong quan tài ngấm vào nên xác ướp còn sực mùi thơm. Quan tài của vua Lê Dụ Tông được làm bằng gỗ quý sơn son, kèm theo nhiều hiện vật gồm chăn bông, vải liệm, áo mặc, giấy bản, khăn phủ mặt, gối, hia, túi trầu, nút lỗ tai bằng bông… cũng đẫm dầu thơm.

Sau đó vài năm, chính xác là tháng 11/1968, người ta lại tiếp tục khai quật được một mộ cổ tương tự nằm trong gò đất của thôn Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định, được đánh giá là một trong những ngôi mộ tiêu biểu cho thuật ướp xác ở nước ta.

Mộ chính xây bằng hợp chất vôi, cát nằm giữa gò đất. Qua lớp đất, nhóm khảo cổ tiếp tục khai mở phần quách. Việc này khó khăn và mất nhiều công sức nhất vì nó được làm bằng hợp chất rất dày, cứng chắc hơn cả bêtông. Hợp chất làm quách (thay cho bêtông ngày nay) không chỉ rất cứng, bền, mà còn mịn dẻo để chống sự nứt nẻ, bở mục theo thời gian và rất khó để xác định những nguyên vật liệu độc đáo này. Nhóm khảo cổ Vân Cát khó khăn lắm mới phá vỡ được vỏ quách dày gần 0,3m bao quanh quan tài và được đổ kiên cố bằng 13 mẻ hợp chất. Sau hàng trăm năm, dấu vết 13 mẻ đổ quách vẫn còn lại với các lớp nối tiếp sậm, nhạt không đồng màu.

Chủ nhân của ngôi mộ là bà Phạm Thị Đằng, vợ của quan thượng thư Đặng Đình Tướng (1665-1735). Điều kỳ lạ, gương mặt bà vẫn mịn màng, thanh thoát nét đài các, dịu dàng. Các khớp chân, tay có thể co duỗi dễ dàng. Mô ngực vẫn còn hình hài mà chưa xẹp xuống hoàn toàn. Đặc biệt, hốc mắt vẫn còn rõ lòng đen, trắng. Hai hàm răng nhuộm đen cũng chưa rụng chiếc nào… Từ trong quan tài cũng tỏa ra mùi thơm thảo mộc thoang thoảng. Người ta nói rằng, nếu thay đó là 1 chiếc giường, thì nhiều người hẳn còn lầm tưởng đó là người phụ nữ đang nhẹ nhàng say giấc… Cũng như các xác ướp được phát hiện trước đó, thi hài này mặc rất nhiều lớp quần áo gồm 35 chiếc áo thụng bằng lụa gấm, 18 chiếc váy vải lụa.

Trong quan tài, người phụ nữ được đặt nằm trên tấm thất tinh, phía dưới là lớp gạo rang dày 20cm rồi mới đến đáy quan tài. Tấm thất tinh là miếng gỗ đục thủng bảy lỗ theo hình chùm sao đại hùng tinh Bắc đẩu được người xưa tin là thuật phép đạo Lão. Nó “quản lý” vong hồn người chết và bảo vệ họ khỏi tà ma, yêu quỷ phá phách.

Nhắc đến những mộ cổ gây “sốc” bởi thi hài nguyên vẹn đến khó tin, không thể không kể đến “xác ướp xóm Cải”. Ngôi mộ và xác ướp người đàn bà phát hiện năm 1994 ở xóm Cải, phường 8, quận 5, TP.HCM được cho đạt tới trình độ thượng thừa về ướp xác thời xa xưa.

Chiếc quan tài được làm từ thân cây khoét rỗng, bên trong quan tài, ngoài xương cốt ra còn có hơn 100 hiện vật tùy táng khác. Ngôi mộ chứa xác ướp của bà được phát hiện hé lộ những bí ẩn mang tính lịch sử mà cho đến giờ các nhà khoa học vẫn chưa lý giải được. Điều đáng nói là khi mọi người gỡ lớp mạng che mặt, ai cũng ngỡ ngàng trước nét mặt bình thản của bà. Xác ướp có mùi thơm nồng, mai tóc vẫn y nguyên dài chấm vai đã có nhiều sợi bạc. Được ngâm hàng trăm năm trong dầu thông nên da thịt bà vẫn mịn màng, hơi có màu sậm đỏ. 

Theo nhiều nghiên cứu lịch sử, đó là xác ướp của bà Nguyễn Thị Hiệu, là hoàng thân quốc thích của vua Gia Long (Nguyễn Ánh 1762 – 1820). Gần 30 năm kể từ ngày được khai quật, “xác ướp xóm Cải” vẫn được bảo quản đặc biệt tại viện bảo tàng lịch sử Việt Nam (TP HCM), ai đến thăm cũng trầm trồ nét mặt bình thản, an nhiên cùng bà an giấc nghìn thu.

Gần đây nhất là trường hợp phát hiện một thi thể “nguyên vẹn” có niên đại trên 200 năm của một người phụ nữ không rõ danh tính tại mộ cổ Cầu Xéo, huyện Long Thành, Đồng Nai vào ngày 16-9-2011.

Mộ cổ Cầu Xéo có kiến trúc khép kín, cấu tạo trong quan ngoài quách. Quách hợp chất bao quanh sáu mặt, dày khoảng 50cm. Các nhà khoa học trực tiếp xử lý và nghiên cứu xác ướp trong quan tài cho biết, người chết được tẩm liệm rất cầu kỳ, với táng thức đại liệm và tiểu liệm, thi thể được tẩm liệm với áo gấm dài phủ đến gót chân; chân mang hài đính chỉ màu vàng, hai chân để trên gối da hình vuông có cạnh 43cm; bên trên phủ vải lụa và nhiều lớp giấy; bên trên ở phần chân có rất nhiều hạt thực vật và được trải một lớp lá sen bên trên cùng với toàn bộ quan tài. Đây cũng là ngôi mộ mà lần đầu tiên các nhà khảo cổ tìm thấy phía dưới bia đá có ghi chữ “Hoàng”, như một thông điệp thông báo người nằm trong mộ có thân thế hoàng tộc. Dù chưa xác định được cụ thể danh tính, nhưng mộ cổ này cũng hé lộ nhiều bí quyết ướp xác của người Việt xưa.

Bí quyết nào đã giúp thi hài vua Lê Dụ Tông, thi thể nguyên vẹn trong mộ cổ Vân Cát và các xác ướp khác chống chọi được với thách thức của cát bụi thời gian? Phải chăng người Việt xưa không chủ ý ướp xác mà lại có một nghệ thuật lưu giữ xác rất độc đáo? Câu trả lời thực sự đang dần dần được hé lộ…

Để bảo vệ xác ướp không bị thối rữa sau hàng trăm năm, người xưa thường phải kết hợp giữa kỹ thuật kết cấu xây dựng ngoài quách gắn với kỹ thuật ướp xác trong quan, hay còn gọi là thuật “trong quan ngoài quách”. Điều này được chứng minh ở việc cấu tạo của các ngôi mộ gần như giống nhau: có gò mộ, phía ngoài là quách tam hợp, phía trong là quách gỗ rồi mới tới quan tài. Với kỹ thuật này tạo nên sự cách biệt ổn định bên trong và bên ngoài mộ hình thành khoảng không gian hẹp kín bên trong để giữ thi thể được tốt nhất.

Về kỹ thuật ướp xác trong quan, theo tài liệu của cố giáo sư, bác sĩ Đỗ Xuân Hợp qua nghiên cứu thi hài vua Lê Dụ Tông đã ghi lại: Dầu thông đã được đổ nhiều vào trong quan tài nên khi mở ra thấy chăn bông, vải niệm, áo mặc, giấy bản đẫm dầu và mỡ. Chất thơm ngấm vào da, và qua da vào các tạng nên sực mùi thơm… Ngay thi hài vua cũng nhớp nháp dầu thông. Chính loại dầu thân mộc này là một yếu tố quan trọng góp phần bảo quản được xác tiền nhân. Thậm chí những miếng trầu, cau chôn theo hàng trăm năm còn xanh tươi như vẫn có thể dùng được.

Còn theo nghiên cứu của cố giáo sư Đỗ Văn Ninh, việc xử lý thi hài rất quan trọng để giữ xác. Người xưa thường quản xác rất lâu trước khi chôn nên rất chú trọng việc chống thối rữa. Ngoài dầu thông được đổ vào quan tài, người sắp qua đời thường được uống thuốc “hồi dương” có quế nóng để giúp tăng tuần hoàn máu. Sau đó lại dùng rượu quế để tắm rửa cho người mất cũng như làm sạch được phần nào trong và ngoài thi hài để giảm sự phân hủy do vi khuẩn. Đặc biệt, khi nhập liệm người xưa thường chèn nhiều chăn, gối, quần áo, giấy bản, bông vào quan tài có rải gạo rang, chè khô bên dưới. Ngoài ý nghĩa tùy táng mang về thế giới bên kia, các thứ này còn hút ẩm và đẩy không khí ra ngoài để hạn chế môi trường vi khuẩn hại xác. Thậm chí trước khi nhập liệm, người ta còn đốt nến trong quan tài như là một lễ thức, nhưng cũng góp phần tạo môi trường chân không và sát khuẩn.

Về lớp quách tam hợp, PGS-TS Nguyễn Lân Cường, một người đã gần 50 năm gắn bó với công tác khảo cổ cho biết, quách bao kín các mặt quan tài, kể cả đáy với độ dày có khi lên tới nửa mét để bảo vệ quan tài và xác ướp bên trong khỏi bị tác hại của nước và không khí lọt vào. Lớp quách thường rất rắn chắc, phải dùng khoan bê tông hay đục cỡ lớn mới phá được vì hợp chất được kiến tạo rất công phu và tốn kém. Vật liệu để làm hợp chất thường được trộn nhuyễn bằng vôi – vôi sống, vôi tôi, vỏ nghêu sò hay san hô nghiền vụn, cát, chất kết dính như mật, mật đường, mật ong, nhựa, dây tơ hồng, ô dước, giấy dó, than hoạt tính để bao kín mui luyện quách ngoài, tạo nên bức tường thành kiên cố không thấm nước, nhằm giữ xác dài lâu, bảo tồn vĩnh cửu thi hài và tùy táng phẩm trong quan.

Ngoài kỹ thuật xử lý xác và phần quách thì phần gỗ quan tài cũng rất quan trọng để giữ xác. Gỗ quan tài thường được chế tác bằng gỗ Ngọc am (Trung Quốc gọi là San mộc) hay còn được gọi là gỗ Hoàng đàn rủ. Đây là loại cây gỗ trong bộ thông, thuộc họ hoàng đàn, sống trên vùng núi đá vôi ở Hà Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng… Gỗ quý này bền thơm và có tính sát khuẩn cao nên góp phần bảo quản thi hài. Dưới đáy quan tài có một tấm thất tinh (tấm gỗ có 7 lỗ thủng mô phỏng chòm sao Bắc Đẩu, vì theo quan niệm người xưa đây là ngôi sao quản người chết).

Đặc biệt người xưa còn biết làm quan tài rất kín, chắc với các mộng ghép chặt chẽ. Hàng trăm năm trong lòng đất, quan tài gỗ này vẫn không hư hỏng và thoang thoảng mùi thơm thân mộc khi khai quật. Những thi hài dù không được ướp dầu thông thơm cũng không thể ám mùi hôi vào gỗ quan. Người chết được mặc rất nhiều lớp quần áo, quấn thật chặt, khi đặt vào quan tài cũng được lèn bằng các loại chăn, gối…

Như vậy theo lý giải của các nhà khoa học, có thể thấy kỹ thuật ướp xác của người xưa chủ yếu dựa vào việc diệt các loại vi khuẩn chuyên hủy chất hữu cơ. Tuy nhiên bí mật về những xác ướp này luôn đi kèm với những truyền thuyết và thông điệp từ quá khứ, tạo nên những thách thức cho hậu thế trong những cuộc kiếm tìm và giải mã. Và chính điều đó giúp cho chúng ta có được một góc nhìn sống động về lịch sử.

Hàng trăm năm qua, những xác ướp với sự bảo quản “bí mật” của tiền nhân, đã tồn tại yên bình và nguyên vẹn trong giấc ngủ ngàn thu. Chính giấc ngủ của họ đã thành trang sử đặc biệt để hậu thế có thể minh định rõ những ẩn khuất, trầm trồ về sự “thông minh” và hoang mang về những điều kỳ quái khó lý giải đằng sau mộ cổ ngàn năm…

THU TRANG (TH)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *