CUỘC ĐỜI TRẦM LẶNG VÀ NGƯỜI CON DUY NHẤT CỦA THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG

Trong suốt cuộc đời sự nghiệp của mình, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng được đánh giá là người cộng sản kiên cường, mẫu mực; nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta; người con rất mực trung thành; người bạn tin cậy của bạn bè quốc tế, nhà văn hóa lớn của dân tộc. Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhận xét về ông là “tác phong giản dị mà lịch thiệp”, “lối sống đạm bạc mà văn hóa” “rất mực ôn hòa” và “hết mức bình dị”.

Cuộc đời và sự nghiệp của ông chắc hẳn đã được nói nhiều qua báo đài, tuy nhiên có 1 bí mật ông khá “kín tiếng” là đứa con duy nhất của mình. Năm 1969, đang lúc cao điểm cuộc chống Mỹ, con trai duy nhất của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đi bộ đội; gia đình Thủ tướng cũng làm nghĩa vụ công dân như bao nhiêu gia đình khác mà không có ngoại lệ. Thời gian tham gia chiến đấu cũng như sau này, anh cũng không được ưu ái hay quan tâm gì đặc biệt theo kiểu con của một vị Thủ tướng. Thậm chí, rất nhiều người quen biết anh không biết đó là con của vị Thủ tướng nổi tiếng. Trước khi qua đời, cố Thủ tướng Phạm văn Đồng đã dặn dò đứa con trai duy nhất của mình rằng: “Ba không có tài sản gì để lại cho con. Ba chỉ để lại một sự nghiệp phải tiếp tục …”

Rốt cuộc, danh tính của người con duy nhất của cố Thú tướng Phạm Văn Đồng là ai? Có những bí mật gì về “nhân vật kín tiếng” này chưa từng được công khai trên báo chí?

Trước khi tìm hiểu về danh tính người con bí ẩn, chúng ta hãy cùng nhau nhìn lại cuộc đời sự nghiệp và đời tư ít ai biết của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Phạm Văn Đồng vô cùng phong phú, gắn liền với những trang sử vẻ vang của Đảng và dân tộc, là tấm gương mẫu mực về tinh thần yêu nước, suốt đời tận tụy phục vụ cách mạng, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Đồng chí Phạm Văn Đồng sinh ngày 1-3-1906 trong một gia đình công chức của chính quyền phong kiến, quê tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi. Ngay từ những năm 1925-1926, ông đã tham gia phong trào đấu tranh đòi thực dân Pháp ân xá cụ Phan Bội Châu và để tang cụ Phan Châu Trinh. Sau khi kết thúc khóa học lý luận chính trị ở Trung Quốc do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp giảng dạy từ năm 1926, ông trở về nước, hoạt động trong phong trào cách mạng ở Nam Kỳ. Cũng từ đó ông bắt đầu sự nghiệp hoạt động cách mạng phong phú của mình, trong đó có những năm tháng bị Pháp đày ra “địa ngục trần gian” Côn Đảo. Sau ngày kháng chiến chống Pháp thắng lợi, từ năm 1955 đến 1987, ông được giao đảm nhiệm trọng trách Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Phó chủ tịch Hội đồng quốc phòng. Với công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, đồng chí Phạm Văn Đồng đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng và nhiều Huân chương, Huy chương cao quý khác. Theo PGS-TS Lê Quốc Lý, đồng chí Phạm Văn Đồng đã cống hiến trọn đời cho Đảng và dân tộc Việt Nam. Có thể nói, Thủ tướng Phạm Văn Đồng là người học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ một cách tuyệt vời. Khi cùng ở với Bác và cả sau khi Bác mất, ông vẫn giữ nếp sống rất đơn giản với một chút cơm, một chút cá hoặc thịt và mấy cọng rau, có ngày chỉ ăn một, hai bát cháo hoặc bát súp, nhưng luôn có sẵn một củ khoai. Những tác phong công việc, cách quan hệ tiếp xúc với mọi người đều chịu ảnh hưởng từ Bác Hồ. Có thể nói không nước nào mà Nguyên thủ (Chủ tịch nước) và Thủ tướng lại có sự gắn bó gần gũi với nhau như thế. Đây thực sự là một mối quan hệ đặc biệt. Trong cuộc sống, Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng coi nhau như anh em, Bác gọi ông là “chú Tô”.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của nước của dân, nhưng ông cũng là người trọn nghĩa trọn tình với vợ con và luôn đau đáu nghĩ về gia đình của mình. Thủ tướng Phạm Văn Đồng có một nguyện vọng: Ông mong người vợ hiền của ông “đi trước” ông, để ông được lo cho bà trọn vẹn, chu đáo, để ông thanh thản, bởi cả đời mình, lúc nào ông cũng nghĩ: Ông nợ bà! Trước năm 1945, ngôi nhà số 37 phố Cầu Gỗ, mặt sau thông ra phố Đinh Tiên Hoàng, bên Hồ Gươm, có hiệu kem Zéphyr, là nhà của cụ Phạm Quang Hưng, làm thông phán ở Bưu điện Bờ Hồ. Ít ai ngờ rằng, hiệu kem Zéphyr lúc nào cũng nườm nượp khách đến bên ngoài như vậy nhưng bên trong các ông Phạm Văn Đồng, Nguyễn Kim Cương ở trên gác xép, chăm chỉ viết báo. Về sau, cả hai đều trở thành con rể của gia đình. Ông Nguyễn Kim Cương lấy bà Phạm Thị Hồng, còn ông Phạm Văn Đồng lấy bà Phạm Thị Cúc. Đám cưới của ông Phạm Văn Đồng và bà Phạm Thị Cúc được tổ chức năm 1946 tại nhà 86 phố Hàng Bạc (Hà Nội) theo lối “đời sống mới”. Khi mới nên nghĩa vợ chồng, Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng hứa với vợ, dù có đi làm cách mạng ở đâu, ông cũng nhất định đưa bà đi cùng. Nhưng sau này vì điều kiện công việc, vì nhiệm vụ cách mạng, ông đã không giữ được lời hứa của mình với người vợ hiền. Mới xây dựng gia đình xong, Phạm Văn Đồng được cử làm Đặc phái viên của Trung ương Đảng tại Nam Trung Bộ. Vì việc nước, ông phải để bà Phạm Thị Cúc ở lại Hà Nội. Quãng thời gian ông được chính phủ biệt phái vào Nam, thương hoàn cảnh vợ chồng ông xa nhau, Bác Hồ đã cho phép bà Phạm Thị Cúc vào Nam với chồng. Vì nhớ chồng mà khi đó, bà đã đi bộ vượt Trường Sơn trong 5 tháng ròng rã để vào Nam gặp chồng. Vào đến nơi thì cũng là lúc ông được lệnh ra ngoài Bắc, bà lại vượt Trường Sơn ra Bắc. Suy sụp sức khỏe sau những hành trình dài vất vả như thế, lại thương nhớ chồng ngày đêm, bà sinh ra bệnh nửa quên nửa nhớ…

Bà Phạm Thị Cúc phát bệnh khi còn rất trẻ, khiến những năm tháng sau này, Thủ tướng Phạm Văn Đồng rất vất vả để chăm sóc gia đình của mình.Sau một thời gian phát bệnh, bà rơi vào trạng thái trầm kha, khiến căn bệnh của bà càng khó lòng cứu chữa.  Đối với bà Cúc, ông Phạm Văn Đồng luôn nghĩ rằng mình có lỗi, luôn trăn trở về trách nhiệm của mình đối với vợ. Ông luôn đau đáu chuyện không chữa khỏi bệnh cho bà, dù đã cố gắng đưa bà đi ra cả nước ngoài (Liên Xô, Trung Quốc) nhưng không có kết quả. Ông còn nói rằng muốn bà Cúc “đi trước” để có thể lo cho bà một cách tươm tất, chu đáo thì ông mới yên tâm.

Năm 1951, con trai ông bà ra đời khi bệnh tình của bà bắt đầu có xu hướng nặng lên, ông đặt tên con là Phạm Sơn Dương và đưa con vào Phủ Chủ tịch sống, còn bà thì sống ở căn biệt thự trên phố Khúc Hạo.

Thiếu tướng Phạm Sơn Dương là người con trai duy nhất của Thủ tướng Phạm Văn Đồng và bà Phạm Thị Cúc, ra đời đã sớm chịu nhiều thiệt thòi khi không có được sự chăm sóc đầy đủ của mẹ. Xoay quanh người con “bí ẩn” này có rất nhiều câu chuyện lạ lùng ít ai ngờ tới…

Đối với anh Phạm Sơn Dương, rất nhiều người quen biết anh còn không biết anh là con của vị Thủ tướng nổi tiếng. Khi còn nhỏ, anh có thời gian sống gần với các cán bộ cảnh vệ, phục vụ của cha. Đối với Thủ tướng Phạm Văn Đồng, tuy công việc bận bịu, nhưng Thủ tướng Phạm Văn Đồng vẫn cố gắng dành thời gian cho con trai mỗi khi có thể. Ông thường gặp con trai vào những bữa ăn, cùng đưa con trai ngồi ăn với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì bận bịu công việc của đất nước nên khi đó Thủ tướng Phạm Văn Đồng phải nhờ thầy giáo Vũ Linh (em vợ của nhà thơ Việt Phương) vào sống cùng tại Phủ Chủ tịch để vừa lo việc dạy dỗ, bảo ban, vừa lo việc học cho Phạm Sơn Dương. Sinh thời, nhà giáo Vũ Linh (Khoa Vật lý – trường Đại học Bách khoa) kể chuyện khi kèm cặp con trai Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Thầy Vũ Linh không phân biệt con của cán bộ cao cấp Trung ương với em con nông dân, ông coi tất cả đều bình đẳng như nhau. Vừa nghiêm khắc, vừa hướng dẫn đầy đủ, song cũng có lần ông phạt roi con Thủ tướng bằng hình thức cảnh cáo: một roi. Đó cũng là lần phạt roi duy nhất đối với học trò Phạm Sơn Dương. Chuyện này chỉ bị lộ ra, theo lời kể của thầy Vũ Linh, khi con trai Thủ tướng đã trở thành sinh viên trường Đại học Kỹ thuật Quân sự.

Nhà thơ Việt Phương kể, Thủ tướng Phạm Văn Đồng tuy yêu thương con trai nhưng cũng rất nghiêm khắc với con: “Khi Phạm Sơn Dương học tiểu học, có lần vì mâu thuẫn, Phạm Sơn Dương đã đánh nhau với 1 cậu bạn học là con của một người sửa xe ở đầu phố. Cậu bạn học đó to con hơn Phạm Sơn Dương nên kết quả là Phạm Sơn Dương bị đánh đau hơn, khắp người xây xước. Khi con trai đi học về, nghe con kể lại sự tình, Thủ tướng Phạm Văn Đồng liền cho người đến chuyển lời xin lỗi của ông tới gia đình người thợ sửa xe đó. Người thợ sửa xe đã vô cùng sững sờ và cảm động khi biết con trai mình đánh nhau với con trai của Thủ tướng mà lại nhận được lời xin lỗi từ Thủ tướng. Hôm đó người thợ sửa xe đã cảm động nói: “Con trai tôi to con hơn. Nó có bị sao đâu. Chỉ có con trai Thủ tướng là bị đau. Tôi không ngờ Thủ tướng lại xin lỗi chúng tôi như thế”.

Nhà thơ Việt Phương cũng kể: “Phạm Sơn Dương hiền lành, ít nói và rất gắn bó với gia đình bên ngoại. Những người trong gia đình bên ngoại cũng vốn có tính cách khiêm tốn. Được sự dạy dỗ của cha và các cậu, các dì bên ngoại nên Phạm Sơn Dương rất hiền lành, ít nói. Tôi chưa bao giờ thấy Phạm Sơn Dương cậy thế cha mình là Thủ tướng mà lên mặt với người khác”. Lúc sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng là người ăn uống rất giản dị. Nên con trai ông cũng quen với nếp sinh hoạt giản dị như thế từ bé. Tôi còn nhớ hồi đó, vì nhà bếp thường nấu gạo ngon cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng ăn, vì ưu tiên ông bị bệnh dạ dày. Phạm Sơn Dương ăn cùng cha nên đương nhiên được hưởng chế độ đó. Nhưng Dương không hề thích ăn loại gạo ngon này. Cứ mỗi lần đến bữa ăn, Phạm Sơn Dương lại mang bát cơm của mình ra đổi lấy nắm cơm của mấy anh lính bảo vệ. Cơm của lính thì nấu bằng gạo thường, ăn không ngon, nhưng Phạm Sơn Dương lại ăn rất ngon lành”.

Là con trai của Thủ tướng đương nhiệm khi đó, nên khi bước vào tuổi trưởng thành, Phạm Sơn Dương nhận được không ít lời đề nghị cấp học bổng của các nước bạn, nhưng Thủ tướng Phạm Văn Đồng từ chối tất cả những lời đề nghị đó. Ông không muốn con trai mình hưởng đặc quyền đặc lợi mà yêu cầu con trai mình phải tự rèn luyện bản thân. Thay vì cho con đi học nước ngoài, ông quyết định cho con vào quân đội. Hiểu tính cách của cha mình nên sau này, Phạm Sơn Dương cũng sống rất khiêm tốn. Năm 1969, đang lúc cao điểm cuộc chống Mỹ, Phạm Sơn Dương đi bộ đội; gia đình Thủ tướng cũng làm nghĩa vụ công dân như bao nhiêu gia đình khác mà không có ngoại lệ. Thời gian tham gia chiến đấu cũng như sau này, anh cũng không được ưu ái hay quan tâm gì đặc biệt theo kiểu con của một vị Thủ tướng. Xây dựng gia đình, Phạm Sơn Dương kết hôn cùng Minh Châu, một ca sỹ nổi tiếng với nhiều giải thưởng như: Giải Nhất tiếng hát sinh viên toàn quốc 1985, được tham dự Festival quốc tế học sinh, sinh viên lần thứ 12 năm 1985 tại Moscow, đoạt giải Nhất Bông cúc Vàng tổ chức năm 1990, từng tham gia Liên hoan âm nhạc dân tộc thế giới ở đảo Hải Nam… Sau khi kết hôn, ca sĩ nổi danh này đã chọn cách sống ẩn mình, lặng lẽ, rời xa ánh đèn sân khấu để toàn tâm toàn ý cho gia đình. Chị ước nguyện gia đình mình là một mái ấm bình thường như bao gia đình khác. Cho đến khi nghỉ hưu, anh là Thiếu tướng, Phó Giám đốc Học viện Khoa học và công nghệ quân sự (Bộ Quốc phòng). Năm 1994, anh tổ chức đám cưới trong một tiệc ngọt giản dị, chỉ có trà và bánh kẹo, không có ăn mặn, với số khách mời cũng khiêm tốn… Sau này, hai người con của anh Dương được ông nội đặt cho những cái tên cực kỳ ý nghĩa, hàm ý gửi gắm những điều rất sâu sắc: con trai Quốc Hoa, con gái Quốc Hương, có nghĩa là hoa và hương của đất nước.

Thiếu tướng Phạm Sơn Dương chia sẻ về Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người cha kính yêu của mình: “Đức tính chân thực, tận tụy, bình dị và hết mực yêu thương nhân dân của cha tôi đã luôn thôi thúc và ảnh hưởng lớn đến nhân cách của tôi. Dù thực hiện bất cứ nhiệm vụ nào tôi cũng nỗ lực hoàn thành tốt”.

Đầu những năm 1980, mắt của Thủ tướng Phạm Văn Đồng bắt đầu bị lóa, nhìn không rõ chữ, tay viết không giữ được nét. Các bác sĩ khám bệnh cho ông kết luận ông bị teo dây thần kinh đáy mắt. Năm này qua năm khác, ông kiên trì dùng thuốc nhưng không thuyên giảm.Các lãnh đạo của một số quốc gia biết chuyện đã mời Thủ tướng Phạm Văn Đồng sang nước họ điều trị mắt với công nghệ tiên tiến. Tuy nhiên khi biết quá trình khám và điều trị phức tạp, mà nước bạn chỉ đài thọ thời gian nằm trong viện, còn ta phải tự lo những chi phí còn lại, kể cả chi phí đi lại, ở lại nhiều ngày, ăn ở cho bệnh nhân và người theo phục vụ, tốn số tiền khá lớn, điều đó khiến Thủ tướng Phạm Văn Đồng suy nghĩ rất nhiều. Cuối cùng ông quyết định: “Việc đi lại quá tốn kém mà lại là ngoại tệ mạnh, ta đang phải bươn chải tìm kiếm từng đôla để nhập những vật tư, thiết bị cần thiết cho nền kinh tế quốc dân, phục vụ đời sống nhân dân, đi chữa bệnh mà không nắm chắc kết quả lại tiêu phí tiền bạc của dân là có tội với dân và còn hàm ơn nước bạn. Vậy thì đi làm gì”.Vì lý do ấy, ông đã chấp nhận sống với đôi mắt của mình cho đến tận những giây phút cuối cùng của cuộc đời, chỉ duy trì việc uống thuốc và tự rèn luyện thị giác cho đôi mắt. Trước khi qua đời, nằm trong bệnh viện, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã dặn dò con trai duy nhất của mình: “Ba không có tài sản gì để lại cho con.  Ba chỉ để lại một sự nghiệp phải tiếp tục. Ba yêu cầu con chăm sóc má của con, chăm lo dạy bảo các con của con mạnh khỏe, ngoan ngoãn, học giỏi, trở thành người có ích cho xã hội, cho đất nước, con xứng đáng là người sĩ quan của quân đội ta”.

Có một nhà thơ nổi tiếng nước ngoài đã tặng một tập thơ cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng với lời đề tặng: “Tặng ngài Phạm Văn Đồng – người đã dạy tôi lòng dũng cảm và sự cao cả theo hình ảnh của dân tộc người; với lòng kính trọng và lòng yêu mến không bao giờ phai nhạt của tôi!”. Không chỉ với nhân dân Việt Nam, mà với nhiều bạn bè quốc tế, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng luôn có được sự yêu mến và kính trọng tuyệt đối.

Chúng ta, những người dân Việt Nam, vô cùng xúc động và hết sức kính trọng đồng chí Phạm Văn Đồng, một con người đã dành cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của dân, của Đảng mà vẫn giữ trọn đạo làm chồng, làm cha. Đạo đức ấy, phẩm chất ấy thật trong sáng, cao đẹp biết bao!

Thu Trang TH

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *