Chuyện Đại tướng Võ Nguyên Giáp ” bảo vệ người rừng” ở Chư Mom Rây

Nằm trong quần thể vườn quốc gia Chư Mom Rây, đỉnh núi Chư Mom Rây có độ cao 1,800 mét, là nơi rất ít khi con người đặt chân đến vì đỉnh núi rất hoang sơ, nhiều thú dữ và đặc biệt là có những đoạn dốc đứng nguy hiểm. Những người dân sống nơi đây, được ví như một “ốc đảo” nằm biệt lập giữa rừng già linh thiêng.

Cũng chính nơi đây là trọng tâm câu chuyện về “người rừng” theo lời kể của người dân làng. Thậm chí, câu chuyện gây chấn động các nhà khoa học, kéo theo rất nhiều nhà khoa học đã bỏ thời gian, công sức lặn lội “ăn ngủ” tại rừng mong muốn khám phá những điều bí ẩn, mong muốn tận mắt nhìn thấy những “người rừng”.

Vậy câu chuyện về “người rừng không đuôi” có thật không hay chỉ trong câu chuyện kể của dân làng nơi đây? Tại sao các nhà khoa học lại tin vào sự có thật của người rừng và bắt đầu những chiến dịch tìm kiếm cũng như bảo vệ họ khiến đại tướng Võ Nguyên Giáp khi đó ra sắc lệnh để “bảo vệ người rừng”

Trước hết chúng ta cùng tìm hiểu về dân tộc Rơ Mâm sống trên đại ngàn Chư Mon Rây, một dân tộc nhưng chỉ tồn tại vẻn vẹn có 400 người nhưng đã từng được tận mắt chứng kiến những “người rừng không đuôi”.

Sau khi vượt qua những đoạn đèo quanh co, uốn lượn cheo leo rồi lại thả mình trôi theo những con dốc thật dài của dãy Trường Sơn hùng vĩ,người ta mới đến được Chư Mom Ray.

Khí hậu nơi đây có phần nóng và khắc nghiệt, mùa khô những cơn gió Lào quăng quật làm cho cỏ cây héo úa, còn mùa mưa thì nước trút như thác đổ. Có lẽ vì thế mà xã Mô Rai là ốc đảo gần như tách biệt với cuộc sống.

Giữa nơi “thâm sơn cùng cốc” đó, người Rơ Mân lại chọn thung lũng Mô Rai làm nơi sinh sống và lập nên làng Le. Tính đến thời điểm hiện nay, làng Le có hơn 100 hộ với hơn 300 nhân khẩu đều là người Rơ Mân. Người dân quanh năm chỉ biết tỉa đậu, trồng bắp, trồng khoai, trồng sắn, cả năm luẩn quẩn trong rừng, vì thế cái đói, cái nghèo cứ bám chặt lấy họ.

Từ xa xưa, người Rơ Mâm vốn sống biệt lập giữa đại ngàn Chư Mom Ray. Tổ tiên của họ có nhiều lần di chuyển nơi cư trú nhưng cũng chỉ loanh quanh ở các khu vực lưng chừng núi, chứ không xuống đến thung lũng Mô Rai như bây giờ.

Trên đỉnh Chư Mom Ray, đỉnh núi cao nhất của dãy Trường Sơn có một hồ nước trong xanh, quanh năm không biết cạn. Bên hồ nước ấy có một thác nước chảy dài như dải lụa. Cũng chính vì thế, nơi đây có nhiều động vật, cây cỏ quý hiếm.

Trong khu rừng này có một loài cây, khi lá vàng rơi xuống có thể lấy lá hút, hút xong cảm giác khoan khoái, con người không còn cảm giác mỏi mệt. Nhưng hút nhiều sẽ thấy trời đất quay cuồng, mây cuốn con người vào giấc ngủ không biết đêm ngày là gì. Kỳ lạ nhất là loại lá trên chỉ có thể hút tại chỗ, không thể mang về nhà hút được. Ai lỡ đút túi mang về đều bị làm cho mộng du, đi loanh quanh trên núi không biết đường mà về.

Khu rừng Chư Mom Ray còn nổi tiếng là rất linh thiêng, chỉ cần kẻ nào có ý đồ xấu, làm tổn hại, phá hoại bất cứ thứ gì trong rừng đó đều sẽ bị phạt không còn đường thoát thân. Cũng chính vì ý thức được việc động vào cây rừng sẽ bị thần linh trách phạt nên không một người Rơ Mâm nào dám săn chặt cây lớn đem về làng. Chính vì vậy, nhiều thế kỷ qua, rừng ở đây vẫn vô cùng xanh tốt.

Nhiều kẻ dẫu nghe về sự linh thiêng của vùng đất này nhưng vẫn không sợ, vẫn quyết tìm đến săn bắn động vật quý hiếm nhưng không thể bắn được con thú nào. Trời tối mà chúng vẫn không thể tìm được đường thoát ra khỏi đó, càng đi càng lấn sâu vào rừng thẳm. Sau nhiều ngày lạc trong rừng không còn thứ gì ăn nên chết rũ xương ở trong đó.

Đi cùng với những câu chuyện linh thiêng của núi rừng nơi này là câu chuyện mà sau khi những người dân làng kể lại là tận mắt chứng kiến đã gây chấn động cả giới khoa học. Đó là câu chuyện về “người rừng” sống ngay trong khu rừng này.

Lần đầu tiên người dân ở đây được giáp mặt “người rừng”, là một buổi sáng tinh mơ, cách đây khoảng 30 năm, già làng cùng mấy thanh niên làng chuẩn bị đi đến khu rừng có những bụi song (mây), lượm cây tốt nhất về làm đồ dùng sinh hoạt thì nghe thấy những tiếng hú lạ.  Khi lần mò theo những tiếng kêu thì phát hiện ra “nhóm bốn, năm con vật lạ, chúng đang ở giữa bãi mây rừng. Chúng có mặt hao hao giống người, vóc dáng nhỏ bằng một thiếu niên Rơ Mâm, cao khoảng hơn một mét, người có lông màu xám, không có đuôi. Điều đặc biệt là chúng đi bằng hai chân như con người, dùng tay để chẻ cây song rừng lấy lõi ăn”

Tất nhiên tâm lý sợ, hoảng loạn nên nhóm người đã chảy thẳng một mạch về làng, từ đó dặn người dân trong làng không được đi một mình vào rừng sâu, đặc biệt những khu vực có mây, phụ nữ càng không được đi một mình, có trai làng đi theo và mang theo vũ khí.

Không lâu sau đó, người dân làng lại một phen rúng động khi biết có một người đàn bà dân tộc Jrai, sống độc thân ở làng bên cạnh đi rừng Chư Mom Ray bắt được một con thú lạ. Con thú ấy chỉ nhỏ bằng cái bắp chuối, có hình thù giống người nhưng lại… không có đuôi. Người đàn bà này đem nó về nhà nuôi nhưng nó chỉ khóc, dỗ thế nào cũng không chịu nín, nó cũng không chịu ăn cháo bắp, cây măng.

Một lần bà này đem con vật lạ ra suối tắm thì thấy nó chộp lấy con nhái ăn ngấu nghiến, nó còn gặm cả ốc suối nữa. Sau một thời gian, con vật lạ này lớn rất nhanh, nhưng nó chén sạch đàn gà của chủ nhà. Nó còn hú về đêm, tiếng hú nghe ghê rợn khiến cả làng Jrai hoảng sợ. Trước áp lực của người dân, cũng như tâm lý hoảng sợ, sáng hôm sau bà này đã phải gùi lên rừng, thả cho nó đi.

Từ  đó, câu chuyện về người rừng với nỗi khiếp sợ, tiếp tục được người dân trong làng kể cho nhau nghe, kèm theo những câu chuyện kỳ bí đi kèm. Trong khi sự việc “người rừng không đuôi” xuất hiện giữa rừng nguyên sinh vẫn còn đang nóng hổi khiến người đồng bào Rơ Mân ở làng Le nơm nớp lo sợ thì không lâu sau đó có hai người dân trong làng đi rừng không thấy trở về. Cả làng Le đã đốt đuốc đi tìm mấy ngày liền nhưng vẫn không thấy tăm hơi. Có ý kiến cho rằng, việc người dân làng mất tích là do bị người rừng không đuôi bắt mất. Thế là luồng thông tin “người rừng không đuôi bắt con người về ăn thịt” được lan truyền rộng rãi, ai cũng cho rằng như thế là hợp lôgic. 

Sự việc còn tệ hại hơn khi những con vật trong nhà như gà, dê, lợn bỗng dưng bị mất sạch với những vệt máu dài. Thế là, dân làng đinh ninh thủ phạm của những vụ bắt gà, lợn chính là “người rừng không đuôi”. 

Cae dân làng Le khi ấy nhuốm màu lo sợ. Khi mặt trời vừa xuống núi, nhà nào, nhà nấy then cài, cửa đóng. Đám người lớn không dám ngủ, đốt lửa trông trẻ con cho đến sáng. Già làng họp dân và đề ra phương án, ban ngày cắt cử một đám thanh niên tự vệ trông trẻ con ở nhà rông, đêm đến một đám khác đốt lửa bảo vệ làng. Cũng thật lạ, từ đó người dân làng Le không còn thấy gì bất thường nữa. Buôn làng trở về những tháng ngày bình yên.

Theo dấu chân người rừng cũng như theo câu chuyện kể lại của người dân dân tộc Rơ Mân sống bên núi Chư Mom Rây, rất nhiều những nhà khoa học không chỉ của Việt Nam mà còn cả các nước trên thế giới đến để tìm hiểu, mong được một ngày tận mắt nhìn thấy “người rừng”. 

Tiêu biểu như PGS.TS Trần Hồng Việt với 20 năm theo dấu chân “người rừng” , khi công cuộc tìm kiếm người rừng của ông bắt đầu từ năm 1977. Năm 1995, khi ông cùng gia đình vào Tây Nguyên nhiều tháng dài để tiếp tục hành trình tìm kiếm người rừng. Ông được người dân cho biết, họ mới bắt gặp người rừng. Thậm chí, đến năm 1998, ông cũng vẫn còn được người dân cho biết, họ mới nhìn thấy và phát hiện dấu chân người rừng để lại cạnh bụi chuối.

Mặc dù chưa một lần nhìn thấy hoặc chụp ảnh được “người rừng” nhưng qua những lời kể của những người dân “không nói dối” cùng những mô tả chính xác của họ thì PGS.TS Hồng Việt, khẳng định người rừng là có thật. Bởi lẽ người dân Tây Nguyên sống trong rừng sâu, chưa từng tiếp cận với sách vở, tài liệu mô tả người rừng nhưng khi được hỏi, họ mô tả chi tiết về hình dáng, bước đi, khuôn mặt… của người rừng chính xác như sách.

Trong khi đó, Việt Nam được đánh giá là nơi có nhiều khả năng gặp người rừng hơn so với các nơi khác trên thế giới. Ở vùng rừng núi Tây Nguyên, PGS Việt từng được người dân bản địa kể cho nghe rất nhiều câu chuyện về việc bắt gặp, nhìn thấy hoặc phát hiện dấu chân người rừng. Trong một lần đi lên Sơn La, ông đã được một người dân đang làm ruộng kể rằng, đã nhìn thấy hai con vật ở cự li rất gần, lông lá đầy người đang dùng đá đào củ măng để ăn, có dáng đi thẳng đứng, sau đó lặng lẽ bỏ đi.

Đặc biệt sau đó chương trình môi sinh 5.202 được Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) phê duyệt. Trong chương trình này, Hội đồng Bộ trưởng đã quyết định di dời lâm trường Bắc Sa Thầy đi nơi khác để giữ môi trường sống, bảo tồn đa dạng sinh học, cũng như cơ hội cho “người rừng” tồn tại.

Từ những nghiên cứu và đề xuất của nhóm nhà khoa học, đặc biệt PGS Việt, ngày 7-4-1982, theo đề nghị của nhóm nghiên cứu khoa học thuộc Chương trình 5.202 về việc lập cơ sở khoa học của việc bảo vệ, khôi phục và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đại tướng Võ Nguyên Giáp (khi đó là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) đã ký quyết định số 65-HĐBT về việc tạm thời khoanh vùng núi Chư Mom Ray, thuộc huyện Sa Thầy, tỉnh Gia Lai – Kon Tum thành khu rừng cấm.

Cụ thể điều 1 của quyết định: Tạm thời khoanh vùng núi Chư Mom Rây – Ngọc Vin và các xã Sa Sơn, Sa Nhơn, Rơ Kơi, Sa Lang, Ia Bốc thuộc huyện Sa Thầy, tỉnh Gia Lai-Kon Tum thành khu rừng cấm.  Trong đó có những quy định cụ thể như: Cấm chặt cây, trừ trường hợp để dọn rừng và tu bổ rừng. Tuyệt đối cấm phát rẫy khu vực Chư Mom Rây – Ngọc Vin; Cấm săn bắt các loại chim, muông, thú rừng; đặc biệt là cấm săn bắn loài đười ươi có thân hình cao lớn (nghi là “người rừng”) có thể tồn tại trong rừng.

Đặc biệt trong điều 3 có quy định rõ: Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp, Viện Khoa học Việt Nam và Ban Chủ nhiệm Chương trình 5202 có trách nhiệm tiếp tục điều tra và sớm có kết luận về sự tồn tại của “người rừng” trong vùng nói trên.

Bộ Lâm nghiệp, Ủy ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan có liên quan lập dự án trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định chính thức về khu rừng cấm nói trên vào cuối năm 1982.

Rất tiếc sau đó, vì chương trình môi sinh 5.202 kết thúc, vì không có kinh phí để tiếp tục nên chương trình của PGS Việt không được tiếp tục. Rất nhiều lần ông cùng gia đình tự bỏ kinh phí mở những cuộc tìm kiếm với hi vọng mong muốn có được một lần “gặp gỡ lịch sử” nhân loại, giải mã được mắt xích về quá trình tiến hóa loài người còn bỏ ngỏ. 

Tuy nhiên, dẫu chưa một lần các nhà khoa học gặp được người rừng không đuôi nhưng dựa theo cứ liệu lịch sử, khoa học cùng những lời kể chính xác của không chỉ một người dân mà nhiều người dân nơi đây, phát hiện “người rừng” của người dân làng Rơ Mân đã được Chính phủ công nhận. Việc đại tướng Võ Nguyên Giáp ký sắc lệnh bảo vệ ngôi rừng chính là minh chứng cho việc này.

Chia sẻ thêm về việc, ở Việt Nam có tồn tại “người rừng” hay không, PGS Trần Hồng Việt chia sẻ nhiều tư liệu quý. Theo ông, ngoài tập trung ở vùng Tây Nguyên, đặc biệt là ba tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk thì ở miền Bắc cũng có rất nhiều dấu vết chứng minh sự tồn tại của người rừng.

Theo ông, có hai dạng người rừng và phân bố khắp trên lãnh thổ Việt Nam từ vùng Tây Bắc cho đến Tây Nguyên. Dạng người rừng thứ nhất là dạng người rừng thấp nhỏ khoảng 1m4 đến 1m5, lông lá đầy người (trừ mặt), dáng đi thẳng bằng hai chân và sống theo bầy đàn khoảng 10 đến 15 cá thể.

Dạng người rừng thứ hai là người rừng cao lớn khoảng 1m8 đến 1m9, cũng có lông lá đầy người (trừ mặt), dáng đi thẳng bằng hai chân và sống theo hình thức cá thể đơn lẻ hoặc gia đình có ba người.

Cả hai dạng người rừng này đều đều có những đặc điểm là: ăn thức ăn sống, chưa biết dùng lửa, không biết dùng tiếng nói, chỉ có thể giao tiếp với nhau bằng các tiếng hú, thường sinh sống trong các hang trong rừng. PGS.TS Trần Hồng Việt cũng cho biết thêm một đặc điểm là chưa thấy trường hợp nào người dân bị người rừng đánh, nếu gặp con người thì người rừng chỉ đứng nhìn rồi lặng lẽ bỏ đi.

Sở dĩ có thể khẳng định đó là người rừng chứ không phải khỉ vì khỉ chỉ hoạt động vào ban ngày chứ không có thói quen đi ăn vào ban đêm, cũng không bao giờ khỉ làm “đạo chích” vào nhà dân bốc trộm cơm nguội.

THU TRANG (TH)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *