Cây thuốc lạ của người từng bị hư thận

Quý vị thân mến, thế giới đang phải đối mặt với nhiều biến động cũng như những thách thức khó lường. 1 trong số những thách thức lớn mà nhân loại phải đối diện đó chính là vấn đề sức khỏe. Như chúng ta đã biết, khi nền văn minh của con người ngày càng phát triển thì cũng có ngày càng nhiều dịch bệnh xuất hiện. Từ các bệnh hiểm nghèo, ung thư đến bệnh dịch. Trong lịch sử nhân loại, loài người đã chứng kiến những đợt dịch khủng khiếp đã cướp đi tính mạng của hàng trăm nghìn người như đại dịch hạch, cái chết Đen, bệnh đậu mùa hay dịch tả. Và hiện tại, chúng ta đang phải gồng mình chống lại đại dịch COVID-19. Đại dịch Covid-19, là một cuộc khủng hoảng sức khỏe mà hệ lụy của nó là nỗi đau khổ to lớn và thiệt hại đó là, mạng sống con người. Gần 2 năm kể từ khi đại dịch COVID-19 xuất hiện đã kéo theo nhiều biến thể mới sinh sôi và phát triển với mức độ lây lan nhanh chóng khiến nhân loại rơi vào trạng thái hoang mang, lo sợ. Trước tình cảnh rối ren đó, mới đây, cả nước vỡ òa trước câu chuyện thoát chết thần kỳ của 1 người đàn ông ở huyện Sơn Hòa, Phú Yên khiến ai nấy đều tò mò và muốn khám phá. Bị bệnh hiểm nghèo, tiền bạc lại không có, anh Ngô Sĩ Lạc ở thôn Nguyên Trang, xã Sơn Nguyên ( huyện Sơn Hòa, Phú Yên) cứ ngỡ mình sẽ sớm lìa khỏi cuộc đời. Thật bất ngờ, trong cái khó ló cái khôn và trong hoàn cảnh bế tắc anh đã tìm uống thuốc nam và hồi sinh 1 cách kỳ diệu. Tiếng lành đồn xa, nhiều người dân cả nước đã lần lượt tìm đến anh Lạc với hy vọng cứu sống chính bản thân mình và những người thân yêu. Quả nhiên, sau 1 thời gian sử dụng bài thuốc, bệnh tình không chỉ thuyên giảm mà sức khỏe còn được cải thiện đáng kể. Vậy rốt cuộc, bài thuốc có thể chữa bách bệnh kể cả những căn bệnh quái ác mà y học bó tay là gì? Đằng sau câu chuyện thoát chết thần kỳ của người đàn ông này còn che giấu bí mật gây sốc nào mà chưa được tiết lộ? Chúng ta hãy cùng nhau đi tìm hiểu bài thuốc nam kỳ lạ này ngay sau đây!

Những diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19 đã khiến sức khỏe của con người bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Song ít ai biết rằng, trong bức tranh u ám của đại dịch vẫn le lói niềm tin vào tương lai tương sáng hơn. Mới đây, tại huyện Sơn Hòa, Phú Yên xôn xao câu chuyện về người đàn ông mắc bệnh hiểm nghèo, bệnh viện trả về nằm chờ chết. Nhưng kỳ lạ thay, nhờ sử dụng bài thuốc nam mà bệnh tật tan biến, hồi sinh 1 cách kỳ diệu. Rốt cuộc, bài thuốc thần kỳ có thể chữa được những căn bệnh hiểm nghèo quái ác này là gì?

Năm 1993, anh Ngô Sĩ Lạc mắc bệnh thận. Căn bệnh này suýt nữa thì cướp đi mạng sống của anh. “Tôi điều trị ở bệnh viện tại Phú Yên, vô bệnh viện TP Hồ Chí Minh rồi ra bệnh viện ở Vinh, Nghệ An. Bác sĩ đều nói cả hai quả thận bị hư, tôi phải ghép thận, nếu có tiền”.

Anh Lạc làm gì có tiền, có thận để mà ghép! Năm 1984, từ Diễn Châu (Nghệ An), anh đến huyện miền núi Sơn Hòa lập nghiệp. Rồi anh đi bộ đội, sang chiến trường Campuchia. Bị bệnh sốt rét hành hạ, anh Lạc xuất ngũ một năm sau đó. Trở về Sơn Hòa, anh lập gia đình. Hai vợ chồng mưu sinh trên rẫy. Đến khi anh Lạc ngã bệnh, vợ chồng anh phải chuyển nhượng 1,5ha đất rẫy để chạy chữa, thuốc thang.

Không có tiền ghép thận, anh đành buông xuôi, mặc cho số phận. Anh được đưa về nhà và bị căn bệnh quái ác hành hạ, dẫn đến phù, co rút hai chân, không thể đi được. Khi đó, người đàn ông sinh năm 1967 này yếu đến mức được vợ và bạn dìu hai bên, cũng không còn sức để đứng lên. Cứ ngỡ mình sẽ chết thì ngày nọ, anh Lạc hay tin ở Tuy Hòa có một người đào vàng bị hư cả hai quả thận, bệnh viện “chê”, trả về. Rồi bệnh nhân đó uống thuốc của một người dân tộc thiểu số ở Phú Túc (Krông Pa, Gia Lai) và khỏe mạnh trở lại.

Như người sắp chết đuối vớ được cọc, anh Lạc nhờ em trai lên Phú Túc, lặn lội tìm người đàn ông kia để mua thuốc. “Em tôi mua được 2 khúc cây, mỗi khúc dài khoảng nửa mét, to bằng cổ tay với giá 150.000 đồng, về nhà vạt mỏng, rang vàng hạ thổ rồi nấu sôi kỹ để tôi uống thay nước. Đêm đó, sau khi uống hết ấm thuốc đầu tiên, tôi rất mệt, nhưng sáng hôm sau thì thấy đỡ nhiều. Tôi liền bảo em lên Phú Túc mua thêm thuốc. Uống đúng một tháng thì khỏe, tôi đi siêu âm lại, bác sĩ bảo: Thận không có vấn đề gì” – anh Lạc tươi cười kể về chuyện mình đã thoát khỏi bệnh một cách kỳ diệu.

Khỏi bệnh, anh Lạc vô cùng tò mò muốn biết cây thuốc gì đã giúp mình bước qua “cửa tử” nên đem khúc cây đến gặp nhiều người dân tộc thiểu số sống ở địa phương để tìm hiểu. Tuy nhiên, tất cả đều lắc đầu, chẳng biết đó là cây gì. Bởi vì trước khi bán thuốc cho gia đình anh Lạc, người đàn ông ở Phú Túc đã chặt cây thuốc ra thành từng khúc và trên cây không còn một cái lá nào, vì vậy, người ta không thể “nhận diện” được.

Khỏe mạnh trở lại, anh Lạc tiếp tục làm rẫy và mua cây thuốc “trữ” trong nhà. “Mỗi lần lên Phú Túc, tôi mua từ 1 đến 2 triệu đồng tiền thuốc để dành trong nhà, ai cần thì tôi chia lại cho họ” – anh Lạc cho biết. Cách đây 3 năm, anh Cao Văn Thìn ở thôn Nguyên Trang, đồng hương với anh Lạc, mắc bệnh sốt rét, sau đó tiểu ra máu rất nhiều. Anh Thìn đến bệnh viện khám thì được khuyên nhập viện để điều trị. “Lúc đó vợ tôi cũng bệnh, đang lúc mùa màng mà gia đình lại neo người nên tôi không nhập viện. Anh Lạc hay tin, đưa cho tôi một khúc cây, bảo về sắc uống thử. Tôi uống vào thấy đỡ, nước tiểu trong trở lại. Công nhận cây đó hay, cách sử dụng cũng rất đơn giản” – anh Thìn kể. Anh Thìn cho biết sau khi uống hết 4 ấm thuốc, anh khỏi bệnh cho tới bây giờ. Khúc cây thuốc mà anh Lạc đưa, giờ vẫn còn một ít, anh Thìn cất kỹ, để dành. “Nó chẳng bị mối mọt gì cả, dù tôi cứ để khơi khơi như thế” – anh Thìn nói. Rồi, cũng như anh Lạc, anh Thìn rất tò mò muốn biết rốt cuộc đó là cây gì mà hay vậy. “Hai anh em đã lên Gia Lai mua thuốc và “theo dõi” người đàn ông đó vì muốn tìm ra gốc gác cây thuốc, nhưng mà không được” – anh Thìn tươi cười kể.

Không chỉ nhiều người dân ở thôn Nguyên Trang biết về cây thuốc “của anh Lạc”, mà người ở xa cũng gọi điện đến “đặt hàng”. Anh Lạc nói: Tôi đã chia thuốc cho rất nhiều người, gần có, xa có, giờ không thể nào nhớ hết. Có người ở Cam Ranh (Khánh Hòa), uống hết bệnh rồi mà vẫn mua thêm, nói là để “thủ” trong nhà. Một người tên Thi bị phù, ứ nước ở thận, uống thuốc hết bệnh rồi thì mua về bán cho dân trong vùng. Tít trong TP Hồ Chí Minh cũng có người điện ra tìm mua cây thuốc này”. Một trong những người ở TP Hồ Chí Minh đã mua thuốc của anh Lạc là anh Nguyễn Đức Thái, sống tại quận Thủ Đức. Qua điện thoại, anh Thái cho biết: “2 năm trước, thận của tôi bị ứ nước độ 2. Nghe người ta mách bảo, tôi mua thuốc của anh Lạc, uống chừng gần một tháng thì khỏi bệnh. Từ đó đến nay, tôi vẫn đi kiểm tra sức khỏe định kỳ, kết quả đều ổn”.

Theo lời anh Lạc, cây thuốc mà anh trữ trong nhà “chuyên trị” chứng suy thận, phù do bệnh về thận, thận ứ nước, tiểu ra máu do tổn thương thận, còn bệnh sỏi thận thì cây thuốc này “bó tay”. Khi có người tỏ ý muốn biết “mặt mũi” cây thuốc, anh Lạc kêu vợ mang ra một khúc cây to bằng cổ tay trẻ con, có gai, màu vàng rất nhạt. Rồi anh mang ra một cái máy bào. Tì khúc cây vào cửa, anh Lạc bắt đầu bào và dăm xối xả văng ra. Chốc sau, anh đã có một vốc to dăm mỏng bào từ cây thuốc, có mùi hăng rất nhẹ. Anh Lạc hướng dẫn: Đem cái này rang vàng, hạ thổ rồi cho vào ấm đất, đổ 4 chén nước, đun sôi kỹ rồi uống thay nước, thế thôi. Một ấm thuốc nấu từ 2 đến 3 nước mới bỏ.

Cũng theo anh Lạc, người bị suy thận phải uống từ nửa tháng đến một tháng mới có kết quả, còn người bị phù do bệnh về thận thì chỉ cần uống trong năm mười ngày. “Có người ở TP Tuy Hòa điện lên hỏi về cây thuốc, rồi hỏi là có cần đưa bệnh nhân đến để bắt mạch không. Tôi đâu phải là thầy thuốc. Tôi may mắn biết được cây thuốc này, cứu được mình, sau đó thì giúp cho bà con mà thôi” – anh Lạc nói.

Như vậy nhờ bài thuốc nam thần kỳ đã giúp anh Lạc và 1 số người đồng hương có thể khỏi bệnh nhanh chóng mà y học hiện đại cũng phải bó tay chịu thua. Có thể thấy, không chỉ có đại dịch COVID-19 mà trong quá khứ, người Việt ta đã từng phải đối mặt với những đợt dịch bệnh nguy hiểm với sức lây nhiễm khủng khiếp. Thế nhưng cách đây hàng trăm năm khi khoa học kĩ thuật còn chưa phát triển mạnh mẽ như hiện nay, người xưa vẫn ngày đêm chăm sóc người bệnh mà không hề mắc bệnh. Vậy người xưa đã chống lại những đợt dịch bệnh hoành hành bằng cách nào? Liệu cách làm này có giúp ngăn chặn đại dịch COVID-19 hiện nay hay không?

Thời xưa ở nước Việt ta, trong những ghi chép vụn vặt để lại, không hiếm lần dịch bệnh hoành hành. Ngay từ dạo Bắc thuộc, Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi việc năm Mậu Dần (138) quân phương Bắc khi đến nước ta “Nam Châu Giao Châu thì trời nắng nực, ẩm thấp lại thêm lam chướng dịch lệ, 10 phần phải chết đến 4, 5 phần”. Dịch bệnh này được xem xuất phát từ thời tiết nhiệt đới mà ra. Sau này ở thời nhà Lý, Khâm định Việt sử thông giám cương mục cho hay năm Canh Thìn (1100) và năm Ất Dậu (1165) trong nước phát bệnh dịch lớn. Sang thời Trần, theo Toàn thư, tháng 8 năm Nhâm Thìn (1232) “gió lớn, dân gian phát dịch lệ, nhiều người chết”. Đến tháng 9 năm Quý Hợi (1263) lại phát sinh bệnh dịch trong dân. Rồi tháng 9 năm Nhâm Dần (1362) dịch bệnh diễn ra ở phủ Thiên Trường. Điểm dễ nhận thấy lại dịch bệnh toàn vào thời điểm mùa thu. Có dạo dịch bệnh gây hại rất lớn như năm Đinh Hợi (1407) lúc nước ta rơi vào tay nhà Minh: “Năm ấy đói và dịch bệnh, nhân dân không cày cấy được, người chết gối lên nhau”. Không lâu sau năm Kỷ Sửu (1409) “Năm này đói và dịch bệnh nặng hơn năm trước”. Khi nhà Lê sơ trị nước, dẫu quốc gia thái bình, thịnh trị nhưng bệnh tật thì đâu có tránh thời vua hiền, tôi sáng. Bởi vậy như ghi chép trong Cương mục, năm Ất Mão (1435) thời vua Lê Thái Tông, lộ Lạng Sơn và lộ Nam Sách bệnh dịch phát sinh. Cũng năm ấy sử còn ghi lại việc đoàn đi sứ phương Bắc phó sứ Phan Ninh, hành nhân Nguyễn Cát Phú và người đi theo, gồm 7 người bị bệnh dịch chết ở đất Trung Hoa. Dạo vua Lê Thánh Tông ở ngôi, năm Đinh Hợi (1467) phủ Quốc Oai, Tam Đới có dịch bệnh. Thời vua Lê Tương Dực quân dân khi tham gia xây điện trăm nóc, Cửu trùng đài nhiều người bị bệnh dịch, chết mất khá nhiều. Có thể thấy hầu như thời nào không ít thì nhiều, đều có sự hoành hành của dịch bệnh khi thì trong phạm vi hẹp là phủ huyện hay một vùng, khi thì bệnh dịch lan ra cả nước. Năm Nhâm Thân (1572), đất Nghệ An sau nhiều phen binh đao lại bị dịch lệ (bệnh nguy hiểm) dẫn đến cảnh thảm thương mà Cương mục còn ghi lại “người chết đến quá nửa. Nhân dân xiêu giạt, hoặc tan tác vào Nam, ra Bắc. Trong cõi Nghệ An đìu hiu vắng tanh”. Thời Lê trung hưng dịch bệnh còn diễn ra năm Canh Tuất (1670), Bính Thìn (1736)… Sau này thời nhà Nguyễn, sử cũng nhiều lần ghi chép dịch bệnh diễn ra. Quốc triều chánh biên toát yếu dù ghi đại thể, nhưng cũng cho thấy năm Giáp Tuất (1814) có dịch bệnh từ Thanh Nghệ trở ra Bắc. Năm Canh Thìn (1820) có dịch trong cả nước, năm Bính Tuất (1826) dịch bệnh từ Quảng Bình trở vào. Rồi các đời vua sau cũng không hiếm như năm Canh Tuất (1850) dịch bệnh trong cả nước, năm Bính Tý (1876) phủ Thừa Thiên bị dịch bệnh. Nguồn gốc dịch bệnh đa phần được ghi nhận do thời tiết mà phát sinh. Nhưng cũng có dịch bệnh liên đới tới động vật khi năm Ất Dậu (1165) dịch bệnh làm cả người và trâu bò bị chết, năm Bính Thìn (1736) bệnh dịch khiến cả người và súc vật chết. Có dịch bệnh lại có nguồn gốc ngoại lai như năm Canh Thìn (1820) bệnh dịch diễn ra từ mùa thu qua mùa đông, phát từ Hà Tiên mà lan đến Bắc thành. Dù không ghi rõ bệnh gì nhưng Toát yếu còn để lại chi tiết “đồn rằng bệnh dịch ấy từ bên Thái tây lây qua”. Điều này có cơ sở vì Hà Tiên là nơi phát triển hải thương. Có bệnh ắt phải chữa bệnh. Các triều đại đều xem việc cứu dân khỏi dịch bệnh hoành hành là việc làm cần kíp, nên sử dụng nhiều biện pháp khác nhau. Việc cấp thuốc cho dân chữa bệnh có thể xem là việc làm thiết thực nhất. Năm Nhâm Dần (1362) khi phủ Thiên Trường có bệnh dịch, vua Trần “bèn xuống chiếu phát cho nhà nghèo mỗi người: thuốc hai viên, tiền hai tiền và gạo hai thưng”. Năm Đinh Hợi (1467) khi phủ Quốc Oai, Tam Đới có dịch bệnh, Toàn thư cho hay vua đã “Dụ cho quan lưu thủ là Lê Niệm phát 50 quan tiền kho nhà nước, sai Tế sinh đường mua thuốc, sai người chữa chạy cho những người mắc bệnh dịch ở các phủ Quốc Oai, Tam Đới và dụ rằng: “Từ nay về sau, phủ nào có bệnh dịch thì cho phép các quan địa phương đó dùng tiền thuế mua thuốc chữa cho dân”. Ngoài biện pháp ý nghĩa sát thực ở trên thì cũng do tin vào thần linh, cho là do âm khí quá thịnh, hoặc có việc trái đạo, hoặc làm trời giận… mà các vị vua mỗi khi có dịch bệnh, ngoài việc giảm ăn uống, xuống chiếu tự trách mình đa phần đều tiến hành lập đàn tế cầu đảo để xin trời gia ân hay xua ma đuổi quỷ gây bệnh. Điểm này có thể thấy xuyên suốt các triều đại đều có làm mà ở đây có thể lấy vài dẫn chứng. Thời Lê trung hưng, Tục biên chép việc năm Canh Tuất (1670) “trời không mưa, nhân dân nhiều người mắc dịch bệnh. Vương thượng chúa Trịnh thành tâm tạ đảo cầu trời mưa”; năm Nhâm Ngọ (1762) “nhân dân nhiều người bị bệnh dịch. Triều đình hạ lệnh cho quan các lộ lập đàn cầu đảo”. Thời Nguyễn, Quốc triều chánh biên toát yếu cho hay năm Giáp Tuất (1814) khi dịch bệnh “lệnh cho lập đàn tế cầu đảo”; năm Bính Tuất (1826) có dịch bệnh vua đã “lập đàn tế tại Kinh, các trấn đều lập đàn tế cả”. Chẳng biết việc cầu đảo có làm cho vua quan và bách tính dạo ấy yên tâm hơn hay chăng trong niềm tin tâm linh, nhưng cứ theo cái lý khoa học thì phải có thuốc thì mới xong, bởi cha ông đã dạy rồi “Đói ăn rau, đau uống thuốc”.

Thu Trang TH

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *