Bí ẩn về kho báu Vua Hàm Nghi: 11 tấn vàng và vô số châu báu

Vua Hàm Nghi là vị vua đầu tiên của triều Nguyễn dám đứng lên kháng chiến chống Pháp. Tuy nhiên chỉ sau 1 năm lên làm Vua, Pháp tấn công trực tiếp vào kinh thành Huế, triều Nguyễn thất thủ. 

Khoảng 7h30 tối ngày 9/7/1885, đội quân phò giá Vua cùng đoàn xa giá và rất nhiều tài sản lên ngựa vượt trường thành lên Tân Sở, trước sự rượt đuổi của thực dân Pháp. Theo thống kê, từ ngày thất thủ kinh đô 5.7.1885 cho đến khi vua Hàm Nghi bị Pháp bắt ngày 2.11.1888, kho báu triều Nguyễn ước lượng trị giá nhiều triệu franc đã không còn gì.

Vậy vua Hàm Nghi đã dấu “kho báu” ở đâu? Có thật sự tồn tại những kho báu này hay chỉ là câu chuyện dựng lên mang tính hoang đường để thỏa lòng tham của một số đối tượng?

Trước hết ta cùng tìm hiểu bối cảnh lịch sử triều Nguyễn thời vua Hàm Nghi cùng những kế hoạch của triều Nguyễn trước sự tấn công của quân Pháp. 

Sau Hòa ước Giáp Tuất 1874, trước sự uy hiếp liên tục và ngày càng gia tăng của thực dân Pháp, Vua Tự Đức đã chuẩn y cho xây dựng một loạt các căn cứ Sơn phòng ở hầu khắp các tỉnh miền Trung. Mục đích sâu xa, nhà Nguyễn muốn chuẩn bị trước một loạt căn cứ hậu lộ nhằm có nơi rút lui và tổ chức kháng chiến lâu dài, nếu Kinh thành Huế bị Pháp tấn công không thể giữ được.

Đầu năm 1885, về cơ bản, các công trình phòng ngự quân sự đã xem như hoàn tất. Thành Tân Sở dài 548m, rộng 418m, tổng diện tích khoảng 23 hecta bao quanh bởi một vòng hào khá sâu, rộng 10m. Triều đình cho dựng thành, trồng tre, đào hào làm chiến lũy, đồng thời cho chở lương thực từ các tỉnh Hà – Nam – Ninh của đồng bằng Bắc Bộ theo đường biển vào Cửa Việt  rồi đưa lên Tân Sở.

Từ kinh đô, rất nhiều vàng bạc, khí giới cũng được đốc thúc đưa ra chôn giấu tại đây. Riêng vũ khí, số lượng chuyển đi rất lớn, mất ròng rã 3 tháng mới hoàn tất. Theo dự định của Tôn Thất Thuyết, 1 triệu lượng (khoảng 33 tấn) vàng ròng, bạc nén sẽ được chuyển từ kho Phủ Nội vụ trong Kinh thành Huế lên Tân Sở. Theo như Phụ chánh Nguyễn Văn Tường sau khi đầu hàng Pháp đã báo cho Khâm sứ Huế Plane de Champeaux biết rằng vào đầu tháng 6.1885, Tôn Thất Thuyết đã cho chuyển đến căn cứ địa Tân Sở (Quảng Trị) – nơi ông Thuyết dành làm “kinh đô” thứ hai khi có biến, một khối lượng của cải kếch xù là 300.000 nén bạc chứa trong gần 600 rương. 

Như vậy, từ đầu năm 1885, trong kế hoạch của vua triều Nguyễn cũng đã tính đến việc di chuyển tài sản tập kết về Tân Sở để chuẩn bị cho tình huống xấu nhất nếu Pháp tấn công kinh thành. 

Ngày 2 tháng 7 năm 1885, tướng Pháp De Courcy đến Huế. Viên tướng thực dân ngạo mạn đòi vua Hàm Nghi phải bước xuống ngai vàng đích thân ra đón, trong khi tất cả binh lính Pháp thì có thể tiến thẳng vào Hoàng thành qua cửa Ngọ Môn, vốn là cửa chỉ có hoàng Đế Đại Nam mới được quyền bước chân qua. 

Đêm mùng 5, rạng sáng ngày 6/7/1885, trước hành động khiêu chiến và ngạo mạn Tôn Thất Thuyết đem quân tấn công trại lính Pháp ở đồn Mang Cá. Sau một ngày giao tranh, quân nhà Nguyễn thất bại. Ngày 9/7, Tôn Thất Thuyết đã hộ giá Vua Hàm Nghi rời Hoàng thành vượt lên Tân Sở.  Ngoài mấy trăm binh lính hộ vệ, theo đoàn xa giá còn có nhiều dân phu khiêng vác các rương vàng bạc và của cải khác. Ngày 13/7/1885, đích thân nhà vua trẻ cũng đã tự tay đóng ấn “Ngự tiền chi bảo” lên những tờ Hịch Cần Vương, kêu gọi sĩ phu và dân chúng mọi miền đứng lên chống Pháp. 

Sau một thời gian ngắn dừng chân tại Tân Sở, Tôn Thất Thuyết nhận thấy nơi đây không thể là căn cứ kháng chiến lâu dài nên quyết định đưa vua Hàm Nghi ra Bắc. Tuy nhiên, lộ trình ra Bắc bị quân Pháp án ngữ, đoàn xa giá dự định theo ngả Lào, rồi cuối cùng vẫn phải quay lại Hà Tĩnh, Quảng Bình. Cụ thể, Tôn Thất Thuyết vội phò giá Hàm Nghi vượt lên phía thượng ngàn Đakrông – Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, từ đó vượt sang Châu mường Mahasay của Lào. Khi Phan Đình Phùng hưởng ứng chiếu Cần Vương khởi nghĩa, lập xong căn cứ Vụ Quang, Vua Hàm Nghi lại vượt biên giới về đóng tại căn cứ núi Ấu (Hương Khê, Hà Tĩnh). Thực dân Pháp đã cử tay sai do Tổng đốc Hoàng Cao Khải chỉ huy đuổi riết. Đoàn tùy tùng lại tiếp tục hộ giá Vua Hàm Nghi vượt đèo Quy Hợp vào đất Tuyên Hóa, Quảng Bình. Có thời gian, đoàn ngự giá hạ trại tại chân núi Mã Cú, nay thuộc địa phận xã Hóa Sơn, Minh Hóa, Quảng Bình. 

Sau hơn ba năm bôn tẩu vùng thượng đạo rừng xanh núi thẳm, vua Hàm Nghi sa cơ. Ngày 26/9/1888, tại khe Tá Bào, Tuyên Hóa, Quảng Bình, tên phản bội Trương Quang Ngọc đã dẫn binh giết sạch đoàn hộ giá, bắt Vua Hàm Nghi dâng cho giặc. Sau đó ông bị đày sang tận châu Phi.

Khi bị bắt, vua Hàm Nghi không còn bất kể tài sản gì. Điều đó dấy lên câu chuyện bí ẩn về kho báu của vua được chôn cất ở những nơi Vua đi qua. 

Trước về chạy về Tân Sở, Tôn Thất Thất đã di chuyển khoảng ⅓ khối lượng vàng bạc triều Nguyễn về đây. Số tài sản còn lại của triều Nguyễn chưa kịp mang về Tân Sở bao gồm khoảng 2/3 ngân khố quốc gia, cùng vô số báu vật vương triều, rất nhiều kim ấn, ngọc tỷ, kim sách, kim chi ngọc diệp, đồ tạo tác quý giá… đã bị Pháp tịch thu.

Tuy nhiên, khi phải chạy khỏi Tân Sở, Vua cùng đoàn phò giá cũng không thể mang theo toàn bộ tài sản. Thời gian Vua và đoàn tùy tùng lưu lại Tân Sở rất ngắn, chỉ chừng 4 hoặc 5 ngày. Ngay sau đó, Pháp đã chiếm Sơn phòng Tân Sở và san phẳng nơi này. Với thời gian gấp gáp như vậy, lại liên tục trong tình trạng bị truy đuổi ráo riết một thời gian dài, gần như chắc chắn Vua Hàm Nghi và đoàn hộ giá không thể mang theo hết số bạc vàng châu báu, tiền bạc đã tập kết về Tân Sở từ đầu năm 1885. Ngoài một phần bị quân Pháp cướp lại, số còn lại có thể được chia nhỏ, chôn giấu lại từng phần ở nhiều nơi dọc đường bôn tẩu.

Theo các tài liệu do người Pháp ghi lại, với độ chênh nhất định giữa các số liệu về khối lượng kho báu (vàng, bạc, tiền…), ngày 19.7.1885, khi quyết định ra phía bắc qua Thanh Hóa, Tôn Thất Thuyết chỉ mang theo mấy rương vàng, giao 140 rương Từ kinh đô, rất nhiều vàng bạc, khí giới cũng được đốc thúc đưa ra chôn giấu tại đây. Riêng vũ khí, số lượng chuyển đi rất lớn, mất ròng rã 3 tháng mới hoàn tất. Theo dự định của Tôn Thất Thuyết, 1 triệu lượng (khoảng 33 tấn) vàng ròng, bạc nén sẽ được chuyển từ kho Phủ Nội vụ trong Kinh thành Huế lên Tân Sở. Nhưng mới chuyển được 1/3, khoảng 11 tấn thì giao tranh với Pháp đã nổ ra tại kinh thành nên phải tạm ngừng.bạc cho Võ Trọng Bình, nguyên Tổng đốc Nam Định đã trí sĩ, đang cư ngụ ở Quảng Bình. Ông này chuyển 83 rương bạc cùng một khối lượng vàng ròng cho các quan tỉnh đương nhiệm ở Đồng Hới, để rồi sau đó các ông này giao nộp lại cho người Pháp. Ngày 24.7.1885, một quan chức Pháp là Silvestre được Tuần vũ Quảng Bình báo cho biết là trong địa hạt của ông còn có 30 rương bạc ở Vạn Xuân, mỗi rương chứa 50 thỏi bạc, giá mỗi thỏi tương đương 81,57 franc, 50 rương bạc ở nhà Võ Trọng Bình, và 50 rương vàng ở nhà một viên quan khác tên Lê Mô Khai.

Sau hành trình gian khổ sang đất Lào rồi quay về Hà Tĩnh, Quảng Bình, đến tháng 1.1886, đoàn xa giá của vua Hàm Nghi chỉ còn mang theo mấy rương bạc. Trước ngày bị Pháp bắt vào 2.11.1888, vua Hàm Nghi không còn của cải gì. Trương Quang Ngọc, rồi thực dân Pháp đã lục xét đào xới khắp bốn chung quanh nơi vua hạ trại hòng tìm cướp báu vật mang theo, nhưng chỉ uổng công. Không ngọc tỷ, kim ấn, không bạc nén, vàng thoi, trong người đức vua chỉ còn lại một ít bạc lẻ. Đặc biệt chúng có tìm thấy tấm bản đồ vẽ nguệch ngoạc, đánh dấu một số kho báu được chôn lại ở nhiều nơi.  Chúng đã dành nhiều thời gian tìm kiếm nhưng do bản đồ sơ sai nên cũng không tài nào xác định nổi vị trí. Trong khi đó Vua Hàm Nghi sau khi bị bắt, đày sang tận châu Phi xa xôi vẫn quyết không chịu khai nửa câu.

Chính vì sự bất ổn trong hành trình di tản để tìm ra một kế sách lâu dài mà một phần kho báu triều Nguyễn đã bị rơi rớt trên đường, để rồi vào những năm cuối cùng của cuộc kháng chiến gian khổ, vua Hàm Nghi và các nhóm nghĩa quân hoạt động quanh ông vẫn phải sống trong sự cùng cực.

Vậy thực hư câu chuyện về kho báu của vua Hàm Nghi và những dấu tích còn để lại ngày nay như thế nào? Số tài sản của vua Hàm Nghi đã bị thất lạc hay được vua chốn dấu ở đâu? Nhiều thông tin, truyền thuyết về một kho vàng bí mật của vua Hàm Nghi đã chôn giấu sau khi rời khỏi hoàng thành có thật hay không?

Tại Minh Hóa, Quảng Bình, nơi đoàn vua Hàm Nghi ghé qua, dấu tích về kho báu được dân chúng phát hiện khá nhiều lần với số lượng lớn khiến cho nhiều người tin rằng, có một kho báu đang nằm trong lòng đất Minh Hóa.

Khoảng những năm 1920, người đi rừng ở Minh Hóa đã phát hiện ra hai đống kim loại màu vàng nằm cách nhau một chiếc đòn gánh (người ta bảo do người gánh bị chết), ông lấy về lát hiên nhà thay cho gạch, sau mới biết đó là vàng. Ít lâu sau, mưa lũ làm bật gốc một cây cổ thụ để lộ rất nhiều vàng. 

Lại có câu chuyện về hai vợ chồng người Hoa, đã phát hiện ra kho vàng của vua Hàm Nghi  ở Phong Nha. Sau đó đúc thành hình các bức tượng người cưỡi ngựa, bôi dầu quả trám rừng rồi thả xuống nước ở một động nào đó. Khoảng năm 1930-1932, không biết người Pháp có nắm được gia phả của người Hoa kia không nhưng đã tiến hành một cuộc tìm kiếm mới. Sau đó có chừng 20 chuyến xe ô tô bịt kín đi lên đi xuống, không biết có phải chở vàng không? Những năm 1990-1991, có một “đơn vị đặc biệt” vào đào bới trong lòng sông Son đoạn trước cửa động Phong Nha, người ta nói đơn vị này cũng tìm vàng.

Tiếp theo là câu chuyện tại Hóa Sơn, Minh Hóa về kho báu khổng lồ của Vua Hàm Nghi, thu được tận 240kg vàng. Theo đó, trong một trận lũ lớn tháng 8/1956, có cô gái tên Quý của xã đi xúc cá đã phát hiện ra nhiều tấm kim loại màu vàng trên bãi đất bồi bên vực Trẩy, khe Dương Cau, xã Hóa Sơn. Lúc đó, xã Hóa Sơn đã chỉ đạo cho lực lượng dân quân, công an bảo vệ rồi thu gom vàng. Tổng cộng số vàng thu được là 240 kg, bỏ đầy 5 cái nong phơi lúa. Đó là những tấm vàng có hình chữ “Đại”. Trước khi thu gom, có nhiều người dân đã lấy đi một số vàng đem về làm đồ dùng trong nhà như những thứ sắt, thép khác chứ họ không quan tâm đến giá trị của vàng.

Bà Đinh Thị Bình, 78 tuổi, ở thôn Đặng Hóa còn kể lại rằng: “Hồi đó, bên cạnh vực Trẩy có một cây Pằn Nàng rất lớn, nhưng trong thân lại bị rỗng. Sau trận lụt lớn, cây này bị đổ và nước cuốn cây xuống vực sâu. Khi lũ rút đi để lại rất nhiều vàng. Chính tôi đã nhặt được 5 chữ vàng rồi đem giao nộp và được cấp trên thưởng cho một bộ quần áo mới.Còn xã được thưởng 3 con lợn với rất nhiều lúa gạo để ăn mừng”.  Nhân sự kiện đó, nhiều người cho rằng, có thể Vua Hàm Nghi đã cho người giấu vàng trong hốc cây Pằn Nàng đại thụ này.

Vào những năm 80, câu chuyện tìm kho báu của vua Hàm Nghi lại nổi lên. Ông Nguyễn Hồng Công, đã bỏ ra hơn 33 năm để tìm kho báu và mới qua đời một cách bí ẩn cô độc ngay chính nơi được đồn đoán là có kho vàng. Ông từng tuyên bố là người sở hữu tấm bản đồ dấu kho báu bí mật của vua Hàm Nghi, sau đó trình bào  với cơ quan chức năng. Năm 1987 anh được Vụ Bảo tồn – Bảo tàng giới thiệu về kết hợp với tỉnh Bình Trị Thiên để tìm kiếm kho báu nói trên. Không lâu sau, đoàn lần lượt rút quân, chẳng những không lấy được vàng mà còn mang theo bệnh sốt rét vàng da về thành phố. Kỳ lạ, anh Công không bỏ cuộc.  Cần mẫn với một sức mạnh kỳ bí, ròng rã 14 năm trời, Nguyễn Hồng Công ngày một tiến sâu vào lòng núi Hoá Sơn với một niềm tin khó lay chuyển: Chỉ ngày mai thôi, cánh cửa kho báu sẽ mở ra, anh sẽ trở nên giàu có như một Alibaba thời hiện đại. 

Đến 11/5/2003, 4 đứa trẻ chăn trâu nghịch ngợm vào hang bắt dơi, luồn từ nơi này qua nơi khác và phát hiện ra một số cổ vật có giá trị đặc biệt là 3 cái tráp. Trong đó có 2 chiếc chìa khoá và một bản đồ mà theo dự đoán ban đầu sẽ mở ra một hướng mới trong việc lý giải câu hỏi: có hay không kho báu của vua Hàm Nghi? Địa điểm phát hiện là một hang lèn ở huyện Tuyên Hoá (tiếp giáp Minh Hoá). Theo đánh giá bước đầu của đoàn công tác liên ngành thì “về giá trị kinh tế hiện hữu không lớn, nhưng có dấu hiệu là các đồ vật cổ rất có giá trị trong nghiên cứu, đặc biệt có nhiều dấu hiệu cho thấy sẽ có nhiều thông tin để xác định một số vấn đề khác, trong đó có thể có những tài sản quý mà cho đến nay vẫn còn là một bí ẩn…”. Sau đó được tỉnh Quảng Bình “cho bảo vệ địa điểm phát hiện cũng như khu vực xung quanh để tránh các đối tượng khác đào bới tìm kiếm kho báu như đã từng xảy ra”. 

Đến tháng 10/2004, những người đi tìm phế liệu đã phát hiện ở đồng Nghè, xã Thạch Hoá (Tuyên Hoá) hai chục chum vại chôn dưới đất trong có chứa hơn 2 tấn tiền cổ và bán cho người mua phế liệu.

Không chỉ ở Minh Hóa, Quảng Trị, những nơi có dấu chân vua Hàm Nghi và đoàn phó giá đi qua đều có câu chuyện bí ẩn về “dấu tích” kho báu.

Khoảng đầu những năm 1980, một số đồng bào dân tộc Vân Kiều ở gần cầu Đắkrông, Quảng Trị, trong khi đi bắt cá khe đã tình cờ phát hiện trong một hốc cây lớn chìm dưới suối cả một kho tàng gồm toàn tiền cổ bằng vàng ròng và những thoi vàng nặng 1 lượng. Cùng thời gian này, một đoàn khảo sát của Bảo tàng Trung ương đã tình cờ phát hiện được tại bản Sê Bu, xã Hướng Phùng, Hướng Hóa, Quảng Trị một chiếc áo dài màu đen, lót lụa đỏ, thêu kim tuyến và hình rồng 5 móng được cho là áo bào của Vua Hàm Nghi. Theo tài liệu, chiếc áo bào này Vua Hàm Nghi đã cởi tặng cho một người Vân Kiều tên là Ku Xin, vì đã có công giúp đỡ đoàn hộ giá. Tương tự, tại thôn 5, xã Hải Phúc (huyện Đakrông) sát với vùng căn cứ Tân Sở, Bảo tàng tỉnh Quảng Trị đã phát hiện được trong gia đình Vân Kiều một chiếc mâm đồng cổ rất lớn chạm 2 con rồng 5 móng và 5 chữ Hán: Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh.

Một nguồn thông tin khác về kho báu Vua Hàm Nghi được mô tả bởi ông Lê Ổn, đại tá Biên phòng về hưu, hiện sống tại TP Đồng Hới. Năm 1955, ông Ổn là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 229, Công an vũ trang, đóng quân tại Minh Hoá, Quảng Bình. Tình cờ, những người lính trong đơn vị ông đã phát hiện trên đỉnh núi Ka Ai có một vùng đất trống bằng phẳng, có 20 cây bưởi cổ thụ được trồng thành hình vòng tròn. Bí mật của câu chuyện được một già bản ở xã Thanh Lạng, cách đó không xa giải mã. Khi già bản này còn là một thanh niên chưa đầy 20 tuổi, có một đợt ông cùng  khoảng 30 trai tráng khác ở Thanh Lạng được huy động lên đỉnh Ka Ai… đào giếng. Nửa tháng sau, rất nhiều châu báu đã được đem lên giếng trên đỉnh núi chôn lấp. Công việc hoàn tất, ngay trong đêm, số thanh niên trai tráng này đều bị chém chết ngay tại chỗ, ông may mắn thoát chết. Quá khiếp hãi, hơn nửa thế kỷ sau ông vẫn không dám hé răng với bất kỳ ai về vụ việc. 

Câu chuyện trên hoàn toàn có cơ sở thực tế khi dân gian cũng từng nói về một giai thoại. Khi vua đi qua tổng Thanh Lạng, bô lão và chức sắc trong vùng đến yết kiến vua. Lúc đó vua mặc áo vàng, ngồi trên kiệu có 4 người khiêng và 4 cận vệ luôn bên cạnh. Gương mặt vua rất trẻ nhưng hiền dịu và uy nghi. Cùng đi còn có Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn (Đề Soạn). Đoàn hộ tống khiêng 50 thùng lớn cùng nhiều thứ chở trên 5 voi, 3 ngựa (mà sau này nhiều người đoán trong đó chứa các vật quý), có 100 lính gươm súng đi kèm

Đến tết 2007, lần đầu tiên sau 122 năm, sự thật về một nơi lưu giữ một phần kho báu vua Hàm Nghi đã được tiết lộ, được VTV1 quay phim và phát hình. Tại xã Phú Gia, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh, một loạt những di vật của vua Hàm Nghi, đáng kể có một cặp kiếm, 6 hoàng bào, một cặp voi vàng, cau, trâu vàng… vẫn được gìn giữ nguyên vẹn sau bao bể dâu lịch sử. Miếu thờ cất giữ những báu vật này nằm cách căn cứ Sơn Phòng xưa chỉ chưa đầy 2km. Theo giai thoại kể lại, trong quá trình bị Pháp truy đuổi, Vua Hàm Nghi có chọn Sơn Phòng là nơi chống Pháp, vì đây là đất địa linh nhân kiệt.  Đặc biệt ở đây có đền Trầm Lâm là ngôi đền thiêng, có liên quan đến sử tích báu vật của vua Hàm Nghi.  Vua Hàm Nghi sau khi được nữ thần trong đền báo mậu, đã chuẩn bị sắc phong cùng lễ vật tạ lễ ở đền Trầm Lâm kèm những vật phẩm quý giá. 

THU TRANG (TH)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *