Những dự báo thiên tài trong Di chúc Bác Hồ

Quý vị thân mến, Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ thiên tài của Đảng và dân ta, Người suốt đời đấu tranh không mệt mỏi vì hòa bình dân tộc và nhân loại. Hồ Chí Minh không chỉ là một chính trị gia đại tài mà còn là một nhà tiên tri vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Bằng trí tuệ của mình, Bác đã có những tiên đoán tài tình về sự phát triển của cách mạng Việt Nam cũng như tình hình chính trị thế giới. Đặc biệt, trong kháng chiến, trong chiến tranh, Bác đã nói trước được những việc lớn sẽ xảy ra nhưng Bác của chúng ta không thuộc 1 tôn giáo nào và không có vị thần nào gợi ý. Bác nói được những sự kiện lớn nhỏ sẽ xảy ra là do trí thông minh và biệt tài nắm được quy luật phát triển của tình hình trong nước và trên thế giới. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán được 1 số tình huống lớn sẽ xảy ra giúp xoay chuyển cục diện thế giới, làm thay đổi vận mệnh đất Việt. Song ít ai biết rằng, trước lúc Người đi xa mãi mãi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một văn bản được gọi là “tài liệu tuyệt mật” là Di chúc thiêng liêng mà đến nay và mãi về sau, chúng ta luôn ghi nhớ, học tập và làm theo. Đây không chỉ là 1 văn kiện lịch sử vô giá đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta mà còn là những dự báo của Người về 1 sự kiện cách mạng vĩ đại quyết định đến vận mệnh dân tộc. Vậy trong bản Di chúc lịch sử này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những dự đoán tài tình nào về cách mạng Việt Nam mà lại giúp dân ta giành được độc lập, tự do hạnh phúc? Để biết được câu trả lời chính xác, trước tiên, chúng ta hãy cùng nhau điểm lại những lần tiên đoán chính xác của Bác Hồ thông qua các bài thơ, lời chúc, những cuộc nói chuyện với các cấp lãnh đạo khi ấy nhé!

Nếu ở Phương Đông nổi tiếng có nhà tiên tri Gia Cát Lượng thì Việt Nam không thể không nói đến tài năng tiên đoán như thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngược về những năm đầu thế kỷ XX có thể thấy Hồ Chủ tịch đã nhiều lần đưa ra những dự đoán chính xác tình hình về tình hình thế giới cũng như giai đoạn đầu cuộc kháng chiến của dân tộc ta. Trong một bài viết vào năm 1940, Hồ Chủ tịch cũng khẳng định: “Phát xít Đức rồi sẽ tấn công Liên Xô. Nếu chúng đánh Liên Xô thì Liên Xô sớm muộn thế nào cũng sẽ tiêu diệt chúng, nhờ đó, cách mạng nhiều nước có thể sẽ thành công.” Bước sang năm 1941, trước những diễn biến mới trên thế giới, Người cũng dự báo: “Nếu trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Liên Xô một nước XHCN ra đời, thì trong cuộc chiến tranh lần thứ 2 này sẽ sinh ra nhiều nước XHCN, cách mạng ở nhiều nước sẽ thành công.” 4 năm sau, quả đúng Liên Xô đã đánh bại phát xít, giúp một loạt nước Đông Âu đứng lên giành độc lập dân tộc, mở đường cho hệ thống XHCN ra đời. Cuối năm 1941, sau khi Bác Hồ từ Trung Quốc về Pắc Bó (Cao Bằng), Người đã viết tập diễn ca “Lịch sử nước ta” với lời mở đầu “Dân ta phải biết sử ta/Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” và ở câu kết, Bác khẳng định: “Việt Nam độc lập -1945”. Sự thực, chỉ 4 năm sau thôi, vào 2.9.1945, chính Người đã đọc bản Tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đầu năm 1954, trên khắp các chiến trường, cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp đang trong giai đoạn ác liệt nhất. Nhưng, dường như nắm chắc vận mệnh dân tộc, bài thơ chúc Tết năm 1954 của Hồ Chủ tịch đã khẳng định chắc chắn: “Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi/Độc lập thống nhất, nhất định thành công”. Không chỉ thế, với tầm nhìn xa trông rộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thấy từ rất sớm âm mưu đen tối và hành động xâm lược trực tiếp của đế quốc Mỹ đối với cách mạng Việt Nam. Ngày 7-5-1954, sau khi quân ta giành được toàn thắng tại Điện Biên Phủ, trong thư gửi cán bộ, chiến sĩ mặt trận Điện Biên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu”, không được “chủ quan khinh địch”1. Một ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nhắc nhở đồng chí Tố Hữu về công tác tư tưởng, Người chỉ rõ: “Chiến thắng Pháp rồi, phải nhớ trước mặt ta còn có kẻ địch hùng mạnh hơn, hung ác hơn, đó là đế quốc Mỹ”. Khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp trở về gặp Bác, chúc mừng chiến thắng xong, Người nói ngay “còn phải đánh Mỹ nữa”. Lúc bấy giờ ít ai nghĩ rằng đế quốc Mỹ vừa bị tổn thất nặng nề trong chiến tranh Triều Tiên, đã rút ra bài học đừng bao giờ đem quân tham chiến ở các quốc gia châu Á, lại có thể thay chân Pháp tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Song, lịch sử đã diễn ra đúng như Người nhận định. Vừa đánh bại thực dân Pháp, nhân dân ta lại phải tiến hành một cuộc kháng chiến kéo dài hơn 20 năm chống đế quốc Mỹ, kẻ thù lớn mạnh nhất của thời đại. Nhờ sớm xác định được kẻ thù nên Đảng ta đã có những chủ trương thích hợp với tình hình và nhiệm vụ mới, chủ động đối phó với những mưu đồ đen tối của chúng. Mặc dù còn có những hạn chế nhất định, chưa kịp thời chuyển hướng đấu tranh sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm cự tuyệt hiệp thương tổng tuyển cử, chậm sử dụng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng của Mỹ – Diệm, nhưng về cơ bản nhận định của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về kẻ thù mới là hoàn toàn chính xác.

Tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân ta phải đương đầu với một tên đế quốc lớn mạnh nhất thời đại, có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh, quân đội đông đảo, thiện chiến, trong lịch sử chưa từng bị bại trận. Dựa vào sức mạnh to lớn, chúng liên tục leo thang chiến tranh, từ viện trợ quân sự cho chính quyền tay sai, đế quốc Mỹ từng bước trực tiếp đem quân chiến đấu ồ ạt đổ bộ vào miền Nam, đồng thời tiến hành đánh phá dữ dội miền Bắc bằng hải quân và không quân hòng đưa miền Bắc “về thời kỳ đồ đá”. Lúc cao nhất ở miền Nam có tới hơn 60 vạn quân Mỹ và quân các nước phụ thuộc Mỹ, gần 1 triệu quân ngụy với trang bị vũ khí cực kỳ hiện đại. Cả loài người tiến bộ lo lắng cho Việt Nam. Trong nước cũng có một số ý kiến sợ rằng ta không đương đầu nổi với Mỹ. Nắm vững tình hình, thấu hiểu chỗ mạnh chỗ yếu của ta của địch, tin tưởng tuyệt đối vào nhân dân, vào sức mạnh dân tộc và thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã hạ quyết tâm kháng chiến, khẳng định thắng lợi cuối cùng sẽ về dân tộc ta. Niềm tin sắt đá đó thể hiện trong rất nhiều bài viết, bài nói, lời tuyên bố của Người. Luận điểm nhân dân Việt Nam nhất định thắng, đế quốc Mỹ nhất định thua được Người nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Kể cả khi đế quốc Mỹ huy động đến mức cao nhất sức mạnh quân sự của chúng vào chiến tranh, Người vẫn không một chút xao động niềm tin.

Ngay cả khi chuẩn bị đi vào cõi vĩnh hằng, trong Di chúc để lại cho muôn đời con cháu, Người đã đưa ra những dự báo tài tình về sự kiện cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Từ năm 1965, mỗi năm, Hồ Chủ tịch dành thời gian từ ngày 10-20.5, trong đó, mỗi ngày từ 9h – 10h sáng, để viết và sửa Di chúc. Việc làm của Người kéo dài 5 năm cho thấy Người vô cùng cẩn trọng đối với bản Di chúc thiêng liêng sẽ để lại cho toàn dân tộc.

Trong bản Di chúc được Người bắt đầu viết vào ngày 10.5.1965, Hồ Chủ tịch đã khẳng định niềm tin tất thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta, dù vào thời điểm ấy, cuộc chiến đấu của nhân dân cả nước đều đang trong giai đoạn vô cùng gay go, quyết liệt: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn.”

Không chỉ xác định đúng kẻ thù, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn dự đoán một cách chính xác thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành thắng lợi hoàn toàn. Năm 1960, sau khi phong trào Đồng khởi bùng nổ và giành được những thắng lợi to lớn, tuy chế độ Mỹ – ngụy vẫn còn mạnh, song với tư duy sắc sảo và sự nhạy cảm đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy sự sụp đổ tất yếu của chúng trong một tương lai không còn xa nữa. Trong Diễn văn bế mạc lễ kỷ niệm 15 năm ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Người viết: “Trong lúc chúc mừng ngày Quốc khánh vĩ đại lần thứ 15, chúng ta càng nhớ đến đồng bào ta ở miền Nam đang anh dũng đấu tranh chống chế độ tàn bạo của Mỹ – Diệm. Chúng ta gửi đến đồng bào miền Nam mối tình ruột thịt và hứa với đồng bào rằng: Toàn dân ta đoàn kết nhất trí, bền bỉ đấu tranh, thì chậm lắm 15 năm nữa Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, Bắc Nam nhất định sẽ sum họp một nhà”. Vào thời điểm bấy giờ, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đang diễn ra rất gay go quyết liệt, công bố điều này là không có lợi nên Người đã gạch đi đoạn “chậm lắm 15 năm nữa”. Mười lăm năm sau, đúng như Người đã khẳng định, bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, quân và dân ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, biến lời dự đoán này của Người thành hiện thực.

Lúc này, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta ngày càng trở nên cam go quyết liệt. Bị thất bại nặng nề ở miền Nam, đế quốc Mỹ liều lĩnh mở rộng chiến tranh ra cả nước, dùng không quân và hải quân đánh phá ác liệt miền Bắc. Cường độ đánh phá của chúng ngày càng mạnh. Hầu như không còn một mảnh đất nào ở miền Bắc mà không có bom đạn Mỹ. Sớm nhận thấy âm mưu đen tối của đế quốc Mỹ, từ năm 1962 Người đã lưu ý đồng chí Phùng Thế Tài phải theo dõi chặt chẽ và thường xuyên quan tâm đến máy bay B52. Năm 1965, khi Mỹ đưa máy bay B52 vào đánh phá ta ở miền Nam, Người trực tiếp giao nhiệm vụ cho đồng chí Đặng Tính phải nghiên cứu, tìm mọi cách tiêu diệt loại máy bay lợi hại này. Ngày 17-9-1967, bộ đội tên lửa bắn rơi chiếc máy bay B52 đầu tiên ở Vĩnh Linh, Người nhắc nhở Quân chủng Phòng không – Không quân: Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng dùng máy bay B52 đánh phá Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua. Quả đúng như Người nhận định, cuối tháng 12-1972, trước khi ký Hiệp định Pari, hòng ép ta trên thế mạnh, chúng đã dùng máy bay chiến lược B52 đánh phá có tính chất huỷ diệt Hà Nội, Hải Phòng.

Quả đúng như những gì Người viết trong bản Di chúc lịch sử. Tất cả những gì Người dự báo, đều hoàn toàn là sự thật. Chỉ 6 năm sau khi bản Di chúc được công bố, mười lăm năm sau bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, quân và dân ta đã đập tan cuộc tập kích phiêu lưu của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải ký Hiệp định Pari theo như những điều khoản đã thoả thuận, rút quân về nước, công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc ta. Lúc này, chúng ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, biến lời dự đoán này của Người thành hiện thực. Chỉ tiếc rằng trong ngày vui đại thắng không có sự hiện diện của Bác Hồ kính yêu, nhưng chúng ta tin rằng, Người vẫn đang dõi theo mỗi bước đi trong cuộc cách mạng của dân tộc Việt Nam. 

Không chỉ vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhìn thấy những công việc to lớn phải thực hiện sau khi chiến tranh kết thúc, những thuận lợi, khó khăn trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Trong Di chúc, Người đã nhiều lần nhắc nhở chúng ta về những công việc phải làm sau chiến tranh. Đó là “công việc đối với con người”; là việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng; khôi phục, phát triển kinh tế, văn hoá, hàn gắn những vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra… nhằm xây dựng thành công “một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh”. Để hoàn thành nhiệm vụ to lớn đó, “phải động viên toàn dân, dựa vào sức mạnh vĩ đại của toàn dân”. Thực tế đã chứng minh lời dự đoán sáng suốt của Người.

Có thể thấy, chỉ hơn 1.000 từ nhưng Di chúc của Bác là một tài sản vô giá, kết tinh tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ chí Minh, chứa đựng biết bao giá trị tư tưởng và tình cảm. Trong bản Di chúc lịch sử này, giá trị cốt lõi mà Người gửi gắm tới toàn thể dân tộc Việt Nam đó chính là TINH THẦN ĐOÀN KẾT. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.” Đặc biệt, trong cuộc chiến chống giặc Covid-19 – một loại giặc mà không có tiếng súng thì đoàn kết chính là sức mạnh, là cội nguồn, là then chốt của sự thành công. Người nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Từ giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mĩ để bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Việt Nam ngày càng khẳng định vị thế cao trên trường quốc tế, hiện nay Việt Nam đã và đang được cộng đồng quốc tế biết đến, thán phục với thành công lớn trong phương pháp chống dịch Covid-19 một cách hiệu quả, an toàn. Ngay lúc này, bất kể là ai, từ người già cho đến trẻ nhỏ, không phân biệt màu da, tôn giáo, cứ hễ là người Việt Nam thì đều chung sức đồng lòng, đoàn kết đánh đuổi kẻ thù vô hình mang tên COVID-19, để người dân sớm trở lại cuộc sống bình yên. Mỗi chúng ta hãy nêu cao tinh thần tự giác cách ly, tuân thủ theo chỉ thị giãn cách xã hội của Chính phủ và thực hiện tốt 5K. Cuộc chiến chống giặc COVID-19 còn lâu dài và phức tạp. Thời gian tới đây, chúng ta có thể sẽ còn phải đối mặt với khó khăn lớn hơn gấp nhiều lần, đòi hỏi sự nỗ lực nhiều hơn nữa, kiên quyết hơn nữa. Để vượt qua và chiến thắng, chỉ có thể đoàn kết, đồng lòng, đồng thuận, mới có thể biến nguy thành cơ. Ta lại nhớ đến lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Chúng ta phải lấy đoàn kết mà xoay vần vận mệnh, giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà”.

Mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi ngôi nhà, thôn bản, xóm, làng, khu phố là một pháo đài chống dịch và Việt Nam nhất định sẽ chiến thắng đại dịch COVID-19”.

THU TRANG (TH)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *