5 Báu vật việt nam cả thế giới thèm khát săn lùng

Quý vị thân mến, dân tộc Việt Nam ta đã trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, cùng với đó là lớp lớp di sản của các nền văn hóa được hình thành và phát triển. Nhận thấy tầm quan trọng của các di sản văn hóa dân tộc, ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 65-SL về vấn đề bảo tồn bảo tàng của nước Việt Nam mới. Trong số những di sản của Việt Nam không thể không nhắc đến những bảo vật quốc gia được lưu giữ, trưng bày trong Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Mỗi bảo vật quốc gia đại diện cho thời kì lịch sử phần nào phản ánh diện mạo văn hóa lâu đời của dân tộc ta. Thậm chí, có bảo vật được xếp vào tốp những hiện vật quý hiếm trên thế giới. Đến cả Pháp cũng phải đưa người sang nghiên cứu, săn lùng. Hay như  Trung Hoa, vốn nổi tiếng là cái nôi của nền văn hóa khi sở hữu nhiều báu vật quý giá nhất mọi thời đại cũng phải nhòm ngó, khao khát có được bảo vật của Việt Nam. Vậy đó là những bảo vật đắt giá nào của dân tộc ta? 5 bảo vật vô giá này ẩn chứa những bí mật gì mà cả thế giới phải nhòm ngó?

Đứng đầu danh sách bảo vật quý hiếm của Việt Nam không thể không nhắc đến 1 bảo vật 1200 tuổi, từng được bảo hiểm đến 5 triệu USD khi trưng bày, được phát hiện ở Quảng Nam và do nghệ nhân Chăm Pa cổ chế tác, đó chính là tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bằng đồng thau là 1 trong 30 bảo vật quốc gia được chính phủ công nhận đợt đầu tiên vào năm 2012. Tượng được 1 người Pháp phát hiện vào năm 1911 tại làng Đồng Dương, xã Bình Định, huyện Thăng Bình (Quảng Nam) nên còn có tên gọi khác là tượng Phật Đồng Dương. Không giống những pho tượng khác, tượng Phật Đồng Dương cao 120 cm, nặng 120 kg, chỗ rộng nhất dài 38 cm, vị trí dày nhất cũng 38 cm. Bức tượng là hình ảnh Đức Phật đứng thuyết pháp trên bệ tròn 2 tầng có cánh sen xung quanh, tóc trên đỉnh đầu được bới từng vòng, quăn hình ốc. Đặc biệt, khuôn mặt Đức Phật tròn đầy đặn, đôi tai dài và mắt sâu, cổ ba ngấn. Vai phải để trần, áo từ vai trái rũ xuống theo kiểu nam thần Yaksha, thân dưới mặc Antariya dài tới mắt cá chân. Khi phát hiện, các nhà khảo cổ ở Trường Viễn Đông Bác Cổ và Hội Nghiên cứu Đông Dương đều hết lời ca ngợi và đánh giá tượng Phật Đồng Dương có hình dáng hài hòa, kỹ thuật tạo y phục rất tinh tế làm toát lên vẻ uy nghiêm. Thậm chí, đây còn là 1 trong những pho tượng Phật cổ thuộc hàng đẹp nhất Đông Nam Á thời bấy giờ. Các nhà nghiên cứu đều nhận định tượng Phật Đồng Dương giống các tượng Phật của nước Sri Lanka, từ đó họ suy đoán bức tượng có niên đại khoảng thế kỷ III – IV, được mang về từ Ấn Độ hoặc Sri Lanka. Nhưng nhiều nhà khảo cổ nghiêng về khả năng là tượng do người Chăm xưa làm nên. Hiện, các nhà nghiên cứu xác định bức tượng có niên đại vào khoảng thế kỷ VIII – IX. Thời kỳ này vương quốc Chăm Pa cùng nền Phật giáo phát triển hưng thịnh nhất. Ngoài thiết kế tinh xảo, ít ai biết rằng, tượng Phật còn hội tụ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp tùy hảo trong quan niệm của đạo Phật. Nói đến các tướng tốt chính là bàn chân Phật chấm sát đất, khít với mặt phẳng đến cây kim cũng không thể nào luồn qua được. Diệu tướng thứ 17 của nhà Phật cũng thể hiện ở hai tay, chân, mắt. Giữa cổ có khắc 3 ngấn chìm gộp lại thành “7 chỗ đầy đặn”. Điểm đặc biệt nữa của pho tượng cổ này là phần nổi trên đỉnh đầu, đây là tướng “nhục kế” trong Phật giáo. Song có 1 điều đáng chú ý là tượng Phật Đồng Dương đã được đưa đi trưng bày ở nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Pháp, Bỉ… Trong triển lãm cổ vật Đông Nam Á tại Bảo tàng Guimet ở Paris (Pháp), tượng cổ được mua bảo hiểm 5 triệu đôla, đây là mức giá bảo hiểm cao nhất từ trước đến nay cho một pho tượng của Việt Nam trưng bày tại nước ngoài. Sau khi phát hiện tại Quảng Nam, tượng Phật đã được đưa ra bảo quản ở Hà Nội. Đến năm 1954, tượng được đưa vào Sài Gòn cho đến ngày nay.

Trong số những bảo vật quốc gia độc đáo của Việt Nam, có 1 bảo vật rất đặc biệt. Bảo vậy này không chỉ lớn nhất Việt Nam mà còn lớn nhất thế giới, thậm chí, mỗi khi nhắc đến đều khiến anh bạn Trung Quốc khiếp sợ. Đó chính là Thạp đồng Đào Thịnh.

Thạp Đào Thịnh có niên đại khoảng 2500 năm cách ngày nay, dáng hình trụ thuôn dần xuống đáy với một mật độ hoa văn dày đặc và được chế tác đặc biệt cẩn thận. Đường kính miệng 61cm, đáy 60cm, cao 98cm, Đào Thịnh là chiếc thạp có kích thước hoành tráng nhất chúng ta từng biết đến, tiêu tốn một lượng đồng lên tới 760kg. Ở thời xưa, để luyện được đủ khối lượng đồng này rồi nung nóng chảy mà làm thành công trình ấy thì không thể đếm hết được bao nhiêu sức người, sức của. Chiếc thạp được tình cờ phát hiện vào ngày 14/9/1961 ở xã Đào Thịnh (huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái). Theo như người dân kể lại, ông Phạm Văn Phúc – một bộ đội phục viên ở xã Đào Thịnh đi câu thấy bờ sông Hồng bị lở, lộ ra 1 vật như cái chum, nằm sâu trong lòng đất khoảng 3m. Trong thạp có chứa một thạp đồng nhỏ hơn, có mảnh gỗ mục đậy lên trên, bên cạnh có một số cục xỉ đồng và một số vật “lầy nhầy” màu đen. Sau đó vào ngày 15, dân làng được tin kéo nhau ra xem và ngày 16 thì Ủy ban hành chính xã được báo cáo và cho người mang về tỉnh Yên Bái. Sau đó, thạp được giao cho Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.

Về hình dáng, thân thạp có hình khối trụ, trên to, thót dần xuống đáy. Nơi phình to nhất của thân rộng 70cm. Thạp có gờ miệng cao 1,5cm. Tổng số có 25 băng hoa văn trang trí quanh thân từ miệng tới đáy. Đặc biệt, gần miệng, cách mép thạp 9 cm đối xứng qua thân có gắn đôi quai hình mui thuyền. Quai có đường kính 4cm, bản rộng 2cm. Mặt quai trang trí văn hình bông lúa. Thạp được đúc bằng khuôn hai mang, trên thân có nhiều lỗ thủng, phần rìa miệng có 2 miếng vá lớn.

Có thể thấy, Thạp Đào Thịnh là một hiện vật điển hình, chức năng chính của thạp là đồ đựng dự trữ lương thực. Điều đáng chú ý là khi mới được phát hiện năm 1961, trong lòng thạp Đào Thịnh còn có dấu tích của than tro và răng của người quá cố. Một thạp đồng nhỏ hơn có đậy một mảnh gỗ bên trên và một số cục xỉ đồng cũng có ở bên trong thạp Đào Thịnh. Vì thế có thể khẳng định lúc chôn xuống đất, thạp Đào Thịnh có chức năng là một quan tài. Với cư dân Đông Sơn, khi chết, thường được chôn trong quan tài gỗ bằng thân cây khoét rỗng. Trường hợp lấy trống đồng, thạp đồng để làm quan tài mai táng người quá cố là trường hợp ít gặp, phản ánh thân phận người chết phải là thủ lĩnh một vùng và rất giàu có. Có thể chiếc thạp Đào Thịnh đã được dùng làm quan tài chôn thủ lĩnh như vậy. Dấu vết than tro có thể gợi ý về tục hỏa táng chăng? Xong vẫn còn là vấn đề cần phải nghiên cứu sâu thêm vì nhiều ngôi mộ thời này không thấy có tục lệ đốt xác. Khác với trống đồng, chúng ta nhận thấy trống Đông Sơn phân bố hầu khắp các nước Đông Nam Á thì đối với thạp đồng, phần lớn được tìm thấy ở Việt Nam và 1 số ít bên Trung Quốc chỉ mang tính trao đổi mà thôi!

Bảo vật tiếp theo đó chính là ấn đồng Môn hạ sảnh ấn. Xung quanh quả ấn đồng này còn có gắn liền với nhiều giai thoại ly lỳ và bí ẩn.

Trong số những hiện vật ấn chương còn lưu giữ, Môn Hạ Sảnh ấn được coi là ấn đồng cổ có niên đại rõ ràng nhất. Ấn bằng đồng, hình vuông, tạo ba cấp, núm ấn hình chữ nhật, chỏm cong, giống hình bia đá, cao 8 cm. Hai bên cạnh lưng ấn khắc hai dòng chữ Hán. Bên phải có 4 chữ, phiên âm: “Môn Hạ Sảnh ấn” (Ấn của Sảnh Môn Hạ). Bên trái khắc 11 chữ, phiên âm: “Long khánh ngũ niên ngũ nguyệt nhị thập tam nhật tạo” (chế tạo vào ngày 23 tháng 5, năm thứ 5 niên hiệu Long Khánh, đời vua Trần Duệ Tông, 1377). Mặt ấn hình vuông, kích thước 7,3cm x 7,3cm, đúc 4 chữ kiểu triện “Môn Hạ Sảnh ấn”. Ấn sảnh Môn hạ đúc vào năm 1377 trên đây được dùng để đóng vào những văn bản hành chính quan trọng của triều đình, bắt đầu từ đời Trần Phế Đế về sau. Xung quanh quả ấn đồng này còn gắn liền với câu chuyện khá thú vị. Tại sao quả ấn lại “lưu lạc’ nơi xã Hương Giang , huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh? Phải chăng việc này có liên quan đến sự kiện các cuộc Nam chinh giao tranh với Chiêm Thành ,diễn ra nhiều năm trong khoảng 1377-1397, mà bi kịch cuộc chiến đã xảy ra, và có thể Đoàn xa giá tùy tùng của vua cũng chung số phận để lại ấn báu của vương triều ? Dù sao đây cũng là giả thiết cần có thêm chứng cứ để các nhà sử học nghiên cứu và giải mã. Có thể thấy, đây chính là chiếc ấn thời Trần duy nhất hiện biết. “Môn Hạ Sảnh ấn” được dùng để đóng trên những văn bản hành chính quan trọng của triều đình từ đời Trần Phế Đế về sau.

Bảo vật quý hiếm thứ tư của Việt Nam không thể không nhắc đến Trống đồng Ngọc Lũ.

Đối với mỗi dân tộc, trong buổi bình minh lịch sử của mình thường được đánh dấu bằng 1 công trình xây dựng kỳ diệu. Nếu như ở Ai Cập cổ đại gắn liền với những kim tự tháp đồ sộ, hay ở Hy Lạp cổ nổi tiếng với tượng thần Dớt thì ở Việt Nam, trong thời kỳ hình thành và phát triển của nền văn minh Việt cổ, dân tộc ta đã có 1 loại di vật tiêu biểu. Đó chính là trống đồng. Trống đồng là sản phẩm của thời kỳ cực thịnh của nhà nước Văn Lang đã đi vào lịch sử nước ta như 1 kỳ công tuyệt diệu. Nổi bật trong số ấy phải kể đến hình ảnh Trống đồng Ngọc Lũ với họa tiết hoa văn vô cùng tinh xảo và độc đáo, thể hiện sự sáng tạo đỉnh cao về nghệ thuật từ những buổi đầu sơ khai của nền văn minh, văn hóa Âu Lạc. Với hình dáng cân đối hài hòa, phủ kín mình những hoa văn đẹp nhất, trống đồng Ngọc Lũ là đại diện loại hình hiện vật tiêu biểu nhất của nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng trong khu vực Đông Nam Á. Vậy trống đồng Ngọc Lũ có gì đặc biệt mà lại khiến các nước Đông Nam Á thèm khát đến vậy?

Trống đồng Ngọc Lũ có niên đại khoảng 2500 năm được xếp vào loại cổ nhất, cơ bản nhất và từ loại này mà các loại khác ra đời. Trống có patin màu xanh ngả xám, đường kính mặt 79,3 cm, cao 63cm, nặng 86kg, thuộc loại kích thước lớn. Mặt trống chính giữa đúc nổi ngôi sao 14 cánh bao quanh một mặt tròn nổi, chính là núm để đánh trống. Xen giữa các cánh sao là những họa tiết hình lông công. Trên các vành trống là hình người và động vật đi quanh ngôi sao theo hướng ngược chiều kim đồng hồ. Trong đó là các nhóm phải kể đến như người mặc áo lông chim đang nhảy múa, người giã gạo chày đôi, người đánh trống, nhà sàn mái cong hay hình ảnh hươu đang đi cùng chim mỏ ngắn bay và chim mỏ dài đứng. Phần thân trống là hình trụ đứng. Phần giữa của thân có những hoa văn hình học chạy song song cắt nhau tạo thành 6 ô hình chữ nhật. Trong ô là các võ sĩ đầu đội mũ lông chim, tay cầm vũ khí vừa đi vừa múa. Chiếc trống được phát hiện vào năm 1893 – 1894 tại Hà Nam trong lúc đắp đê ở xã Như Trác, huyện Nam Xang (nay là Lý Nhân) hữu ngạn sông Hồng. Theo lời người dân kể lại, khi đào ở bãi cát bồi thì thấy ở dưới độ sâu 2 mét lộ ra một vật bằng đồng rất lớn, các ông vội lấp đất rồi đến đêm mới kéo ra đào thì thấy một trống đồng, các ông khiêng về cúng vào đình làng Ngọc Lũ. Sau 7 – 8 năm, một họa sĩ người Pháp đến vẽ tại đình thấy trống liền báo cho Công sứ Hà Nam. Nhân có cuộc đấu xảo ngày 15.11.1902 ở Hà Nội, trống được Trường Viễn Đông Bác Cổ mua lại với giá 550 đồng. Từ năm 1958 đến nay, trống đồng Ngọc Lũ luôn được lưu giữ, trưng bày tại hệ thống trưng bày chính của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.

Bảo vật cuối cùng đó chính là kiệt tác Cửu Đỉnh của nhà Nguyễn.

Được biết đến là triều đại quân chủ cuối cùng của Việt Nam, khởi điểm kể từ khi có sự xưng đế của Nguyễn Phúc Ánh năm 1802 cho đến vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị vào năm 1945. Có thể nói, triều Nguyễn là 1 triều đại đã đánh dấu nhiều bước thăng trầm của lịch sử Việt Nam, đặc biệt là trong thời kỳ chiến tranh xâm lược của quân đội Pháp vào giữa thế kỷ 19. Nói đến triều Nguyễn chúng ta không thể khong nhắc đến hệ thống lăng tẩm của vua chúa xưa. Điều đáng chú ý là trước sân Thế miếu trong Hoàng Thành Huế còn có 1 kiệt tác mang đậm dấu nét của triều đại này đó là Cửu Đỉnh. Cửu Đỉnh được vua Minh Mạng ra lệnh đúc vào mùa đông năm 1835 và khánh thành vào ngày 1/3/1837 gồm 9 chiếc đỉnh bằng đồng, lấy ý tưởng từ Cửu Đỉnh của nhà Hạ ở Trung Quốc. Đỉnh hay vạc vốn là đồ để nấu ăn thời xưa, được đúc bằng kim loại, thường có hai quai và ba chân, nhưng được các bậc vua chúa tôn lên là tượng pháp để tượng trưng cho quyền lực thống trị của nhà nước quân chủ. Trước khi có Cửu Đỉnh, các vua chúa nhà Nguyễn từng cho đúc nhiều đỉnh đồng để xác định quyền uy của triều đại. Mỗi đỉnh lại có một tên riêng ứng với một thụy hiệu của mỗi vị hoàng đế triều Nguyễn, lần lượt là Cao đỉnh, Nhân đỉnh, Chương đỉnh, Anh đỉnh, Nghị đỉnh, Thuần đỉnh, Tuyên đỉnh, Dụ đỉnh, Huyền đỉnh.  Cao đỉnh ứng với án và khám thờ vua Nguyễn Thế Tổ (vua Gia Long), được đặt ở chính giữa trong số Cửu Đỉnh và là đỉnh duy nhất được nhích về phía trước 3 mét với hàm ý tôn vinh vị vua sáng lập triều đại. cả chín chiếc đỉnh đều có dáng chung giống nhau: bầu tròn, cổ thắt, miệng loe, trên miệng có hai quai, dưới bầu có ba chân. Ở phần cổ đỉnh, bên phải ghi năm đúc đều là “Minh Mạng thập lục niên Ất Mùi” tức là năm 1835.  Nhưng mỗi đỉnh cũng có nét riêng, thể hiện ở kiểu dáng quai, vành miệng, vai, chân và đáy.  Mỗi đỉnh được chạm khắc 17 bức họa tiết và 1 bức họa thư, gồm các chủ đề về vũ trụ, núi sông, chim thú, sản vật, vũ khí… Nguyên liệu đúc Cửu Đỉnh do triều đình cung cấp, gồm nguyên liệu chính là đồng và kẽm, có thể thêm chì, thiếc… lấy từ trong kho hoặc các phế khí hay những vật phẩm bằng đồng không cần dùng nữa. Đặc biệt, tổng khối lượng đồng để đúc chín chiếc đỉnh là trên 22.000 kg. Điều quan trọng là Cửu Đỉnh gắn liền với con số 9, một con số thiêng liêng theo quan niệm phương Đông, tượng trưng cho Trời, cho sự hoàn thiện tuyệt đối, cho quyền uy và sức mạnh của người đứng đầu thiên hạ. Vậy con số 9 có ý nghĩa như thế nào?

Lí giải về con số 9, ít ai biết rằng số 9 vì tinh tú và hiện tượng thiên nhiên trong vũ trụ là Mặt Trời, Mặt Trăng, Gió, Sét, Mây, Mưa, Ngũ tinh, Bắc Đẩu, Nam Đẩu. 9 ngọn núi lớn là Thiên Tôn, Ngự Bình, Thương Sơn, Hồng Lĩnh, Tản Viên, Duệ Sơn, Đại Lãnh, Hải Vân, Đèo Ngang. 9 sông lớn là Bến Nghé, sông Hương, sông Gianh, sông Mã, sông Lô, Bạch Đằng, Thạch Hãn, sông Lam, sông Hồng. 9 con sông đào và sông khác là kênh Vĩnh Tế, sông Vĩnh Điện, sông Lợi Nông, sông Vệ, sông Phổ Lợi, sông Thao, sông Cửu An, sông Ngân Hà. Đó còn là 9 loài chim, 9 loài cây lương thực, 9 loài hoa, 9 loại cây lấy quả, 9 loại dược liệu quý, 9 loại cây thân gỗ, 9 loại vũ khí chiến trận, cờ… Thật kỳ lạ khi tất cả những số 9 ấy hòa quyện với nhau tạo nên một bức tranh thiên nhiên sông núi đất trời Việt Nam hoành tráng.  Trải qua gần 2 thế kỷ biến động, Cửu Đỉnh vẫn không thay đổi vị trí, còn nguyên vẹn cho tới ngày nay.

THU TRANG (TH)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *